Thứ Bảy, ngày 16 tháng 10 năm 2010

Những nhân tố khác

B. Những nhân tố khác.
Ngoài 3 nhân tố chủ yếu là: giai điệu, tiết tấu, hoà thanh, còn có các nhân tố khác:
1. Âm sắc:
Là những màu sắc của âm thanh, nó phụ thuộc vào nguồn gốc âm thanh phát ra.
- Âm sắc gồm 2 loại căn bản khác nhau:
+ Âm sắc giọng người.
+ Âm sắc nhạc khí.
- Âm sắc không phụ thuộc vào một cơ cấu logic như tiết tấu, điệu thực.
- Âm sắc có mối quan hệ đến một số phương pháp diễn tả đặc biệt là giai điệu.
2. Nhịp độ.
Nhịp độ có mối liên quan chặt chẽ đến tiết tấu, tiết luật và các nhân tố này tạo nên sự chuyển động của âm nhạc. Tiết tấu xác định về thời gian giữa các âm, còn nhịp độ liên quan đến tính chất, đến hình tượng và tính thể loại của tác phẩm âm nhạc.
Các nhà soạn nhạc dượng đại rất quan tâm để lựa chọn nhịp độ chính xác cho từng chủ đề, từng đoạn nhạc và từng tác phẩm.
3. Tốc độ.
Tốc độ là quy định cụ thể về sự chuyển dộng của một đơn vị tiết tấu theo đơn vị thời gian là 1 phút. Giữa nhịp độ và tốc độ có sự liên quan chặt chẽ với nhau vì không có một bản nhạc mà nhịp độ chậm và tốc độ nhanh được và ngược lại.
4. Cường độ.
Cường độ là phương pháp diễn tả, xác định độ mạnh, nhẹ của âm thanh và liên quan chặt chẽ tới sự chuyển động của giai điệu. Khi âm thanh thể hiện với cường độ mạnh thường biểu hiện sự căng thẳng, tích cực và ngược lại sẽ bình ổn, êm ả.
Do vậy lựa chọn cường độ thích hợp cho từng giai điệu, từng đoạn, từng phần là một trong những khía cạnh quan trọng cho sự biểu hiện của âm nhạc làm cho nội dung của tác phẩm được biểu lộ rõ ràng. Việc sử dụng nhạc cường độ cần quan tâm tới các âm hạn của nhạc cụ nhất là nhạc cụ hơi cũng như âm hạn của từng giọng hát.
5. Âm vực.
Âm vực thường liên quan tới giai điệu và âm sắc, trong toàn bộ phương pháp diễn tả cơ bản của âm nhạc âm vực ở mức độ thứ 2 đôi khi nó lại ở vị trí thứ nhất.
Âm vực còn liên quan đến âm sắc như âm sắc của từng loại giọng hát và âm sắc của các nhạc khí nhất là kèn hơi.
Sự tương phản về âm vực góp phần cho sự phát triển của tác phẩm, đặc biệt có cấu trúc ở các hình thức lớn, phức tạp.
6. Cách cấu tạo.
Là phương pháp sắp đặt âm thanh trong tác phẩm âm nhạc gồm các bè riêng biệt được phân thành hai dạng cơ bản là một bè và nhiều bè.
Cách cấu tạo 1 bè có 03 kiểu khác nhau:
+ Bè đơn.
+ Bè đồng âm.
+ Tăng đôi trong một vài quãng tám.
- Cách cấu tạo nhiều bè được phân thành 03 kiểu:
+ Chủ đề (homophonie)
+ Bè tòng (heterophonie)
+ Phức điệu (polyphonie)
*, Chủ đề gồm 1 bè dẫn dắt còn các bè khác có ý nghĩa phụ thuộc với tính chất đệm.
*, Bè tòng: gồm nhiều bè trong đó có một bè với ý nghĩa dẫn dắt nhiều bè khác trình bày biến hoá, hoạ lại những âm điệu điển hình nhất của bè chính.
*, Phức điệu: là dạng nhiều bè phức tạp nhất, các bè đều phát triển và độc lập, cấu tạo phức điệu có hai kiểu chính là mô phỏng và tương phản.
Trong mô phỏng tất cả các bè được hoạ lại từ một bè và cũng là chất liệu chủ đề theo một trật tự nhất định. Trong phức điệu tương phản các bè là những đường nét giai điệu độc lập, tương phản về nội dung. Trong thực tế cấu tạo nhiều bè còn có tính hỗn hợp.
Cách cấu tạo còn phụ thuộc vào tính chất đặc biệt về thể lại của tác phẩm. Cấu tạo trong tác phẩm âm nhạc và trong nhiều trường hợp được giữ liên tục trong một phần lớn của hình thức.

III. Chủ đề âm nhạc.

III. Chủ đề âm nhạc.
Những nguyên tắc phát triển trong hình thức âm nhạc:
1. Chủ đề âm nhạc.
Một tác phẩm âm nhạc là một thể thống nhất. Hình thức âm nhạc là một quá trình tiến triển theo thời gian và phụ thuộc vào những quy luật, các nguyên tắc nhất định.
- Những quy luật và nguyên tắc phát triển trong hình thức âm nhạc có tính tương đối , không nên hiểu một cách cứng nhắc, cố định như một công thức vĩnh cửu.
- Sự phát hiện những quy luật, nguyên tắc này có thể trên cơ sở chất liệu cấu trúc tồn tại trong mỗi tác phẩm, chứa đựng những đường nét trong sự phát triển. Cơ sở hiện thực đó là chủ đề âm nhạc, là tư duy, sự bố cục về cấu trúc và tính điển hình rõ ràng của hình tượng.
- Chủ đề âm nhạc là những yếu tố chính dẫn dắt và chi phối bước phát triển trong tác phẩm âm nhạc.
Bởi vậy việc tìm hiểu nội dung chủ đề, chất lượng cấu trúc và hình tượng chủ đề có ý nghĩa rất lớn trong việc phân tích âm nhạc toàn diện.
- Tác phẩm âm nhạc có thể có một hay một vài chủ đề.
- Chủ đề âm nhạc là một khối phức tạp, tổng hợp thống nhất một vài khía cạnh như đặc điểm của cảm xúc, hình tượng, tính chất đặc biệt về thể lại và những đường nét dân tộc độc đáo.
- Tính điển hình về thể loại của chủ đề âm nhạc là một khía cạnh quan trọng của hình tượng âm nhạc, nếu phân tích chính xác sẽ phát hiện nội dung tác phẩm.
- Khuôn khổ và cấu trúc của chủ đề âm nhạc rất khác nhau từ một vài nhịp đến một số nhịp tùy thuộc vào vai trò, chức năng của chủ đề trong toàn bộ dán ý sáng tác cũng như tùy thuộc vào phong cách và thể loại của tác phẩm.
- Chủ đề âm nhạc phức điệu thường cấu trúc ngắn, gọn gàng.
* Âm hình chủ đạo cũng là chủ đề khuôn khổ ngắn, độc đáo, rành mạch, giữ vai trò nền tảng cho sự phát triển của những tác phẩm giao hưởng trong âm nhạc sân khấu lớn.
- Trong quá trình phát triển các yếu tố của âm hình chủ đạo được biến đổi hình dạng nhưng vẫn giữ được nét điển hình, nhất để tạo tính thống nhất cho tác phẩm.
- Các giai đoạn của sự phát triển mà hạt nhân chủ …
- Chủ đề chủ điệu có thể được hình thành từ một hạt nhân hoặc một vài hạt nhân và chúng được gọi là đồng nhất.
- Chủ đề âm nhạc gồm vài hạt nhân tương phản giữa chúng được gọi là tương phản.
- Phân tích tỷ mỷ chủ đề âm nhạc của tác phẩm có ý nghĩa quan trọng quyết định cho việc phân tích toàn bộ, đồng thời còn để tìm những đường nét chính của phương pháp sáng tạo và tư duy âm nhạc vốn có của nhà soạn nhạc.
- Một chủ đề âm nhạc cao trình bày một cơ cấu phức tạp và biểu hiệu tư duy âm nhạc hoàn thiện.
- Chủ đề là nền tảng của toàn bộ tác phẩm và trải qua một vài giai đoạn của sự phát triển
+ Giai đoạn đầu: chứa đựng sự trần thuật, đôi khi nhắc lại chủ đề để củng cố thêm.
+ Giai đoạn phát triển: các chủ đề được thay đổi, phát triển, cũng có khi xuất hiện thêm mối liên quan đến chủ đề mới.
+ Giai đoạn kết: khẳng định những đường nét hình tượng cơ bản của tác phẩm bằng việc họa lại chủ đề nguyên dạng hoặc thay đổi.
2. Những nguyên tắc phát triển trong hình thức âm nhạc.
Hình thức âm nhạc là một quá trình tiến triển theo thời gian, chất liệu chủ đề tiếp nhận sự phát triển, thay đổi dưới ảnh hưởng của các nguyên tắc nhất định. Những nguyên tắc này là những yếu tố dẫn dắt chất liệu chủ đề, hoạt động và điều chỉnh sự phát triển của chúng trong các giai đoạn riêng biệt.
Một vài nguyên tắc cơ bản, tổng hợp nhất là:
- Nguyên tắc nhắc lại gồm nhắc lại nguyên dạng và nhắc lại thay đổi.
- Nguyên tắc biến đổi âm điệu gồm biến đổi chất liệu cũ và xuất hiện chất liệu chủ đề mới tương phản (tương phản đối chiếu, tương phản bổ sung và tương phản hoàn toàn)
- Nguyên tắc tái hiện.
+ Nhắc lại là một trong những nguyên tắc cơ bản tổng hợp nhất của sự phát triển chất liệu chủ đề. Trong giai đoạn đầu của hầu hết các dạng hình thức âm nhạc, chủ đề thường nhắc lại, còn trong khuôn khổ của chính chủ đề thường nhắc lại hạt nhân của chủ đề. Nhắc lại là nguyên tắc có nhiệm vụ khẳng định chất liệu chủ đề và củng cố một cách chắc chắn hơn trong ý thức.
- Nhắc lại nguyên dạng là chủ đề hay phần nào đó từ chất liệu chủ đề giữ nguyên về cấu trúc và độ dài.
- Nhắc lại thay đổi: nổi bật bởi tính sinh động lớn hơn không chủ củng cố trần thuật mà còn tăng cường đẩy nhanh quá trình âm nhạc đến giai đoạn mới.
*, Đổi mới âm điệu là một trong những nguyên tắc tạo thành dạng của hình thức được dùng trong các hình thức âm nhạc đơn giản và phức tạp.
Quá trình thay đổi âm điệu được thực hiện bằng nhiều cách thức khác nhau:
a. Qua sự biến đổi của chất liệu chủ đề cũ.
- Nghĩa là chất liệu chủ đề sẽ được biến đổi qua phát triển (hoặc nguyên tắc phát triển )
- Khi nhắc lại không thể thay đổi một cách cơ bản cấu trúc chất liệu chủ đề, thì phát triển là nguyên tắc biến đổi chủ đề một cách căn bản, phát hiện nội dung và những khía cạnh mới còn chưa bộc lộ khi trần thuật.
Phát triển thực hiện trước tiên ở giai đoạn phát triển của hình thức, nơi bắt đầu quá trình căng thẳng nhất trong biến đổi chất liệu.
Phát triển tạo ra mức cao đột ngột của sự căng thẳng qua sự xé lẻ chất liệu chủ đề, họa lại kiểu mô phỏng và qua việc sử dụng các thủ pháp đa dạng về hòa âm, phức điệu cũng như các thủ pháp khác.
b. Qua sự xuất hiện chất liệu chủ đề mới hoặc những hành động tương phản.
- Vai trò của sự tương phản là căn bản trong nghệ thuật âm nhạc cũng như trong các loại hình nghệ thuật khác. Thiếu nó sẽ không thể tạo ra những hình tượng phức tạp và phản ánh những hiện tượng sung đột sống động và kịch tính. Hành động tương phản trong hình thức âm nhạc có mức độ khác nhau trong thể hiện tùy thuộc nhiệm vụ nghệ thuật và phạm vi của tính kịch âm nhạc.
Hình thành một vài dạng tương phản như:
+ Tương phản đối chiếu (so sánh)- sự đối chiếu tương phản trực tiếp của các phần hoàn thiện tương đối lớn hay nhỏ trong hình thức.
+ Tương phản bổ sung- hai chủ đề hoặc hai phần của hình thức bổ sung cho nhau và tiếp nhận như hai khía cạnh của một tâm trạng hình tượng- cảm xúc.
+ Tương phản cùng nguồn- hai chủ đề, trong đó chủ đề này được sinh ra từ cùng nguồn gốc của chủ đề kia.
c. Đổi mới âm điệu bằng cách tổng hợp chất liệu chủ dề mới với việc phát triển chất liệu chủ đề cũ.
Dạng tổng hợp đổi mới âm điệu đã phát hiện ra những khả năng mới, hấp dẫn cho sự phát triển của hình thức âm nhạc.
+ Tái hiện- trở về chất liệu chủ đề cũ, một trong những nguyên tắc tạo thành hình thức với nhiều hiệu quả rộng rãi của hành động. Nhờ tái hiện đã góp phần trực tiếp ở giai đoạn kết để tạo nên sự cân bằng, ổn định. Trở lại chất liệu chủ đề cũ, tạo điểm tựa trong ý thức, khẳng định bản chất của nội dung. Tái hiện trong nhiều trường hợp đặc biệt khi phần trước phát triển căng thẳng nhất- phần trung tâm của hình thức, tái hiện phục hồi lại cho cân bằng và ổn định.
Ngoài những nguyên tắc đã trình bày ở trên trong thực tề còn có thể tồn tại những nguyên tắc khác tùy thuộc vào từng trường phái, phong cách tác giả. Người nghiên cứu cần có thái độ khách quan xem xét phân tích tỷ mỷ để nêu ra được những gì là mới trong từng tác phẩm.

IV. Chức năng từng phần của hình thức.

IV. Chức năng từng phần của hình thức.
Ngoài chức năng logic như đã trình bày ở mục III, các giai đoạn cơ bản phát triển chủ đề trong hình thức âm nhạc tồn tại cả chức năng cấu trúc: phần mở đầu, phần trình bày, phần giữa, phần tái hiện và phần kết.
Các phần của hình thức không tồn tại riêng biệt mà chúng phụ thuộc lẫn nhau, thống nhất trong toàn bộ dàn ý sáng tác chung. Phần trình bày, phần giữa và phần tái hiện là những phần chĩnh của hình thức âm nhạc. Các phần mở đầu, nối tiếp và kết phục thuộc vào các phần chính và trong nhiều trường hợp có ý nghĩa phụ thuộc, đôi khi ở những hình thức có khuôn khổ nhỏ hơn không có các phần này. Có phần mở đầu thực hiện chức năng của trung tâm, dẫn dắt bước phát triển tiếp theo trong hình thức.
1. Phần mở đầu.
Phần mở đầu có chức năng chuẩn bị cho sự xuất hiện của phần chính của hình thức âm nhạc. Nổi bật với tính chất không ổn định, thiếu hình thành cấu trúc và sự hoàn thiện để hướng tới phần tiếp theo.
Phần mở đầu có thể không độc lập về chủ đề mà liên quan đến chất liệu chủ đề ở các phần tiếp theo.
Phần mở đầu có chủ đề độc lập, không liên quan đến chất liệu chủ đề của các phần tiếp theo của hình thức.
2. Phần trình bày.
Phần trình bày là phần chính của hình thức, chứa đựng sự trần thuật đầu tiên của chất liệu chủ đề. Hình thành cấu trúc rõ ràng, ổn định thống nhất chủ đề và điệu tính; đảm bảo tính tập trung của các yếu tố hành động cơ bản; góp phần làm nổi bật chất liệu chủ đề chính để nhận thức dễ dàng hơn.
Ở phần này, hạn chế thấp nhất các chất liệu chủ đề. Tuy nhiên cũng gặp một số trường hợp phần trình bày vừa trần thuật chất liệu đầu tiên chủ đề vừa phát triển ở mức độ nhất định. Phần trình bày có thể cấu trúc khác nhau tùy thuộc vào nội dung chủ đề. Phần trình bày đơn giản chưa đựng một chủ đề và phát triển hòa âm chỉ ở một điệu tính.
Phần trình bày có thể cấu trúc phức tạp hơn và chứa đựng một vài chủ đề, mỗi chủ đề liên quan đến một điệu tính thích hợp. Trong âm nhạc đương đại tồn tại việc phân tích tính thống nhất điệu tính một cách rõ ràng hơn, trong một số tác phẩm đương đại không phụ thuộc vào sự thiếu vắng của nhân tố điệu tính trung tâm, trong nhiều trường hợp vẫn giữ được chất lượng phần trình bày.
3. Phần nối tiếp.
Nối tiếp liên kết hai chủ đề hoặc hai phần chính của hình thức, có chức năng dẫn dắt, hướng sự phát triển cũng như chuẩn bị điệu tính, chủ đề tới phần tiếp theo; nổi bật với tính chất không ổn định về hòa âm, không có cấu trúc hoàn thiện và không độc lập về chủ đề. Trong nhiều trường hợp nốp tiếp phát triển những nhân tố chủ đề đã xuất hiện ở trước. Nối tiếp có thể rất ngắn không phát triển mà chỉ là mối quan hệ chuyển giọng giữa hai chủ đề. Trong một số trường hợp sinh ra sự phát triển căng thẳng với đường nét không ổn định, chuyển đến các điệu tính xa. Kiểu nối tiếp này điển hình trong các hình thức âm nhạc phức tạp sẽ đề cập chi tiết ở hình thức rondo, sonate.
4. Phần giữa.
Phần giữa là trung tâm của các dạng hình thức âm nhạc. Phụ thuộc vào nội dung chủ đề, phần giữa thường có hai dạng chính:
a. Phát triển- dựa trên cơ sở biển đổi chất liệu từ phần trình bày. Dạng này không ổn định về hòa âm, cấu trúc và phát triển căng thẳng. Ở hình thức âm nhạc phức tạp như hình thức sonate, phần giữa biển đổi sâu sắc chất liệu chủ đề, dẫn tới xuất hiện đường nét hình tượng mới và được gọi là phần phát triển. Sự phát triển của dạng này được thực hiện bằng nhiều phương tiện đa dạng để biến đổi chất liệu chủ đề: xé lẻ chất liệu, các phần riêng biệt tiếp nhận phát triển căng thẳng, độc lập đôi khi chuyển dịch, phát triển mô phỏng các nhân tố chủ đề; xuất hiện chất liệu chủ đề mới hỗn hợp. phát triển liên quan tới sự căng thẳng về hòa âm, chuyển đến các điệu tính xa. Phát triển là mẫu cao nhất của phần giữa phần phát triển, xuất hiện các quá trình phức tạp liên quan tới sự thay đổi cấu trúc hình tượng âm nhạc.
b. Tương phản- chứa đựng chất liệu chủ đề mới tạo ra sự tương phản chủ đề mạnh mẽ, điển hình phần giữa tương phản là hình thành cấu trúc và ổn định điệu tính (tính ổn định là tương đối bởi còn phụ thuộc vào điệu tính chính của các phần bao quanh phần giữa tương phản)
Một số trường hợp phần giữa là tổng hợp đường nét phát triển chất liệu chủ đề cũ với sự xuất hiện chủ đề mới.
5. Phần tái hiện.
Phần tái hiện là phần chính của hình thức, trong đó được phục hồi lại chất liệu chủ đề cơ bản. Tái hiện thực hiện chức năng hoàn thiện và tạo ra sự thống nhất chủ đề và điệu tính trong hình thức âm nhạc. Sự trở về chất liệu chủ đề cơ bản ở phần tái hiện để khẳng định trong nhận thức như một thời điểm quan trọng trong sự phát triển toàn bộ hình tượng- chủ đề.
Trong nhiều mẫu mực của âm nhạc cổ điển sự trở về chất liệu chủ đề cũ trùng hợp với sự phục hồi điệu tính chính. Cũng có trường hợp không trùng hợp mà phần tái hiện bắt đầu ở điệu tính phụ thuộc, sau đó mới chuyển đến điệu tính chính. Phần tái hiện có thể phục hồi chất liệu chủ đề cơ bản không thay đổi gọi là tái hiện nguyên dạng. Khi phần tái hiện phát triển biến đổi đến mức cao của sự căng thẳng, kết quả là chất liệu chủ đề đi vào bước mới của sự phát triển, dạng này gọi là dạng tái hiện động.
Đôi khi phần tái hiện còn phục hồi cả chất liệu chủ đề phần giữa tạo thành sự tổng hợp mối tương quan giữa chất liệu phần giữa với chất liệu phần trình bày gọi là tái hiện tổng hợp. Xuất hiện những dấu hiệu tái hiện sớm ở phần giữa của hình thức gọi là tái hiện giả, tái hiện giả luôn ở điệu tính phụ thuộc, là thời điểm ổn định nhất thời trong phát triển của phần giữa.
6. Phần kết.
Phần kết thực hiện chức năng tóm tắt, khái quát trong hình thức ân nhạc. Thường thường phần này tóm tắt những đường nét chính chất liệu chủ đề, kết thúc phát triển, tạo ra sự ổn định cân bằng hoàn toàn. Trong một số trường hợp phần kết không chỉ khái quát đường nét chất liệu chủ đề mà còn tóm tắt cả những thời điểm quan trọng, căn bản của sự phát triển, đem đến giá trị mới trong nội dung hình tượng- chủ đề.
Những hình thức âm nhạc lớn, phức tạp phần kết được trải qua các bước, có thể phát triển bổ sung chất liệu với đường nét không ổn định. Bước vào phần trung tâm của phần kết phát triển lớn, tạo ấn tượng cho mối liên quan mới của sự xung đột nhưng trong những trường hợp tương tự, trung tâm phát triển của phần kết bắt đầu bước ổn định, trong đó là kết đầy đủ hoặc âm trì tục trên bậc chủ sau đó là không ổn định dẫn tới sự căng thẳng.

V. Sự phân chia trong hình thức âm nhạc. Ngắt, cơ cấu, phần. môtip, tiết nhạc, cấu trúc câu giai điệ

V. Sự phân chia trong hình thức âm nhạc. Ngắt, cơ cấu, phần. môtip, tiết nhạc, cấu trúc câu giai điệu.
1. Sự phân chia trong hình thức âm nhạc. Ngắt, cơ cấu, phần.
Hình thức âm nhạc trình bày hệ thống toàn bộ hình tượng chủ đề. Đồng thời trong đó còn tồn tại sự phân chia thành các bộ phận riêng biệt, tạo ra thời điểm chia cắt nhất thời của chuyển động. Sự phân chia ấy tương tự như trong ngôn ngữ cũng như trong thơ ca, nhờ vậy mà việc biểu hiện trở nên rõ ràng, còn trong nhận thức các chi tiết riêng biệt nổi bật hơn.
Trong hình thức âm nhạc tồn tại hai khuynh hướng tương phản và đồng thời chúng lại bổ sung cho nhau: cấu trúc tương phản và quá trình. Khuynh hướng cấu trúc tương phản được biểu hiện qua việc phân chia tạo ra tính rõ ràng trong logic. Còn khuynh hướng của các yếu tố tương phản đòi hỏi tính liên tục của dòng chảy thời gian. Sự phân chia là biểu hiện rõ trong khuynh hướng cấu trúc của hình thức âm nhạc. Nó tạo ra hiệu quả nổi bật có tính tổ chức logic của cấu trúc tác phẩm
Phân chia hình thức âm nhạc thành từng bộ phận riêng biệt và ranh giới giữa chúng xuất hiện sự ngưng nghỉ, chuyển động. Sự ngưng nghỉ tạm thời đó được gọi là ngắt.
a. Ngắt phân chia hình thức thành từng bộ phận, chứa đựng mức độ khác nhau về sự hoàn thiện của nhận thức.
b. Cơ cấu là một bộ phận của hình thức, có mức độ nhỏ hơn về tính độc lập và sự hoàn thiện. Cơ cấu không thực hiện chức năng logic độc lập hoặc chức năng cấu trúc trong hình thức âm nhạc.
c. Phần là một bộ phận lớn hơn của hình thức, có tính hoàn thiện tương đối và thực hiện chức năng cấu trúc độc lập.
2. Môtip, tiết nhạc, câu nhạc.
a. Môtip.
Môtip là cơ cấu nhỏ nhất với tính hoàn thiện của tư duy, là một tổ âm bao quanh một phách mạnh. Ngoài tính tự nhiên của âm luật môtip luôn chứa đựng sự phong phú về giai điệu hoặc tính điển hình về nhịp điệu hay tính chất đặc biệt về hòa âm.
Môtip là hạt nhân cơ bản của chủ đề, có vai trò dẫn dắt sự phát triển trong toàn bộ hình thức. Giới hạn của môtip không khẳng định bằng vạch nhịp, có môtip chiếm trọn khuôn khổ nhịp, có môtip lại trải qua vạch nhịp.
Khẳng định giới hạn của môtip cần phải phù hợp với tính chất đặc thù của quy luật về sự không ổn định của âm nhạc để tìm đến điểm tựa không phải là thời điểm trước đó mà ở thời điểm sau. Do vậy, những âm có trường độ ngắn ở phách yếu luôn hướng tới âm ở phách mạnh sau đó có giá trị trường độ dài hơn để liên kết chúng trong một môtip.
b. Tiết nhạc.
Tiết nhạc gồm vài môtip (ít nhất là hai) có tính độc lập và hoàn thiện nhất định; có âm điệu phong phú hơn môtip, có khuôn khổ lớn hơn và được liên kết theo mối tương quan của nội dung. Trong tiết nhạc thường có một môtip trội bật hơn và không phải tiết nhạc nào cũng bao gồm những môtip giống nhau mà còn có những tiết nhạc gồm những môtip tương tự hoặc những môtip khác nhau. Có tiết nhạc phân thành từng môtip nhưng cũng có những tiết nhạc không phân thành môtip được.
c. Câu nhạc.
Câu nhạc gồm một vài tiết nhạc (ít nhất là hai), câu nhạc biểu hiện tư duy tương đối hoàn thiện, tạo ra điểm chia cắt thời giân trong đường nét chung phát triển của đoạn nhạc.
Câu nhạc thể hiện tư duy âm nhạc tương đối hoàn thiện bởi ranh giới giữa chúng có thể xuất hiện chuyển biến đột ngột về phát triển hòa âm cũng như xuất hiện giọng song song.
3. Cấu trúc câu giai điệu.
Trong khuôn khổ của câu nhạc cũng như của đoạn nhạc xuất hiện mối tương quan xác định điển hình giữa các môtip, tiết nhạc mà trong lý thuyết nghiên cứu hiện may gọi là cấu trúc câu gia điệu. Trên cơ sở đó được coi là nhân tố quyết định việc nhắc lại có tính chu kỳ của cơ cấu với số lượng, môtip và tiết nhạc. Chúng liên quan tới sự thay đổi khuôn khổ của cơ cấu, tới sự phát triển của giai điệu, hòa âm và với mối tương quan nhịp điệu.
a. Tính chu kỳ của cấu trúc.
- Tính chu kỳ là dạng cấu trúc giai điệu đơn giản nhất, dựa trên cơ sở liên tiếp của hai hay nhiều hơn những cơ cấu như nhau về khuôn khổ.
- Tính chu kỳ tạo ra sự rõ ràng trong cấu trúc và gây ấn tượng trong nhận thức. Tính chu kỳ có thể phức tạp hơn và chứa đựng nhóm gồm hai cơ cấu.
b. Tính tương phản của cấu trúc.
*. Tổng hợp:
- Tổng hợp là cấu trúc gồm hai yếu tố. Yếu tố thứ nhất có tính chu kỳ của hai cơ cấu, còn yếu tố thứ hai không có tính chu kỳ.
- Tổng hợp tạo khả năng tập trung chủ đề, cho sự cân bằng và ổn định trong cấu trúc.
*. Chia nhỏ:
Chia nhỏ trong cấu trúc câu giai điệu bao gồm một cơ cấu lớn hơn không phân chia được, tiếp theo là hai hoặc nhiều hơn những cơ cấu nhỏ hơn giống nhau hoặc gần giống nhau.

sưu tầm


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét