Thứ Tư, ngày 06 tháng 1 năm 2010

LỊCH SỬ NHẠC JAZZ

Một trong những câu hỏi lớn mà vẫn chưa được trả lời là "Nhạc Jazz đã bắt đầu như thế nào?" Đĩa nhạc jazz đầu tiên được phát hành vào năm 1917 nhưng sự tồn tại của nó thì đã có từ 20 năm trước đó. Ảnh hưởng bởi nhạc cổ điển, Marches (vùng cận Anh, Wale, Scotland), các bài thánh ca, bài ca lao động, nhạc cổ điển của Mỹ, blues và các dòng nhạc phổ biến trong thời bấy giờ, jazz đã tồn tại như là một thể loại nhạc không giống bất kì một loại nào.

Sự sớm nhất của Jazz (?) được thực hiện bởi những nhạc sĩ lãng du của các ban nhạc vùng New Orleans từ thập kỉ 90 của thế kỉ trước với các ban nhạc chuyên dùng nhạc khí bằng đồng và bộ gõ được thuê mướn để biểu diễn trong các cuộc diễu binh, tang lễ, tiệc tùng và khiêu vũ. Nó vẫn giữ quan điểm lí luận mà các nhạc sĩ (những người mà không bao giờ chơi nhạc) mà không biểu diễn một cách đơn giản các giai điệu một cách liên tục nhưng vẫn tiến gần hơn nữa với các phong cách biểu diễn ấn tượng.

Từ khi nghệ sĩ kèn Cocne Buddy Bolden (người nghệ sĩ đầu tiên được xem là ca sĩ nhạc jazz) trình diễn với ban nhạc vào năm 1895, thì năm này được xem là năm khai sinh ra nhạc jazz. Trong suốt khỏang thời gian hai thập kỉ tiếp theo nhạc jazz chỉ tiến những bước chậm chạp. Bolde (người bị bệnh thần kinh hành hạ vào năm 1906) được kế nghiệp nghệ sĩ kèn corne nổi tiếng New Orleans Freddie Keppard và ông ta là người vượt trội hơn King Oliver. Mặc dù nhiều nhạc sĩ ở vùng New Orleans đã di chuyển về phía bắc, nhưng nhạc jazz vẫn giữ nghên những nét đặc trưng của vùng này trong suốt thế chiến thứ nhất.

Vào ngày 30/01/1917 một nhóm nhạc hiện thực có tên là "The Original Dixieland Jazz Band" thu đĩa "Darktown Strutters Ball" và "Indiana" tại Columbia. Thứ âm nhạc kích động được xem như là loại thịnh hành tại thời điểm đó cho tới ngày 26/02 khi ODJB đến Victor và thâu đĩa "Livery Stable Blues" và "The Original Dixieland One Step". Đĩa này sau đó được tung ra và ngay lập tức "Livery Stable Blues" trở thành sản phẩm bán chạy nhất và nhạc jazz phần nào đã được biết đến. Trong một khỏang thời gian ngắn ngủi, các nhóm khác cũng thâu nhiều đĩa theo phong cách đầy ấn tượng của ODJB. Nhạc Jazz được yêu thích trong nhiều năm liền và vào năm 1919, ban nhạc ODJB là ban nhạc được yêu thích nhất ở London. Tuy nhiên, đó chỉ là một vài năm trước khi các nhạc sĩ da đen thu các đĩa của họ, những người đã phá vỡ cái kết luận là người da trắng đã phát minh ra nhạc jazz. Một loạt các phản ứng dữ dội sau đó cho người ta thấy rằng là chỉ có những người da đen chơi nhạc jazz còn lại tất cả các người da trắng chỉ là bắt chước. Điều đó chứng tỏ rằng những kết luận trước đó đã sai.

Vào năm 1920, Mamie Smith ghi đĩa Blues đầu tiên, "Crazy Blues", và sau đó chẳng bao lâu có sự đổi ngôi giữa nhạc Jazz và Blues. Tuy nhiên nhạc Jazz tiếp tục phát triển và ban nhạc New Orleans Rhythm Kings vào năm 1922 chơi lại những bản nhạc hàng đầu của ODJB. Năm 1923 được xem là năm bản lề cho nhạc jazz bởi vì trong suốt khoảng thời gian đó King Oliver's Creole Jazz Band, ca sĩ blues Bessie Smith và các nhà soạn nhạc piano Jelly Roll Morton đều tung ra các sản phẩm đầu tay của mình. Trong khi King Oliver's band được xem như mang hoàn toàn phong cách của các nhóm New Orleans, thì Louis Armstrong thay đổi hoàn toàn nhạc jazz.

Vào những năm đầu của thập kỉ 20, Chicago là trung tâm của nhạc jazz. Vào thời gian này, Louis Armstrong nhập với ban của Fletch Henderson thành một ban nhạc lớn ở New York vào năm 1924, anh ta được biết đến như là một ca sĩ thường chơi theo phong cách nhấn âm không theo kiểu của Blues. Armstrong, bằng các vũ điệu sinh động, gây ấn tượng mạnh cùng với Henderson, được xem là người có nhiều ảnh hưởng trong giới biểu diễn nhạc jazz và tạo ra một hướng đi mới với khả năng dung hợp cho nhạc jazz. Trên thực tế Louis Armstrong đã chứng minh sự thay đổi trong nhạc jazz bằng cách chuyển từ chơi theo nhóm sang solo kết hợp với vũ điệu.

Thập niên 20 trở đi được biết đến như là thời của nhạc Jazz (mặc dù thời kì này quan điểm của xã hội với âm nhạc là tự do). Nhạc jazz bắt đầu ảnh hưởng một cách mạnh mẽ lên các ban nhạc khiêu vũ và thậm chí hầu hết các ban nhạc mang tính thương mại đã bắt đầu hát solo và có tiết mục múa minh họa. Các đĩa nhạc gây ấn tượng của Louis Armstrong như "Hot Five" và "Hot Seven" phổ biến những bản nhạc jazz không lời và cách phân nhịp tự do chịu ảnh hưởng của Bing Crosby (người gây ảnh hưởng lên nhiều người khác) như: nghệ sĩ kèn corne Bix Beiderbecke (người có giọng tốt hơn Armstrong), nghệ sĩ piano Jelly Roll Morton (cả hai đều chơi solo trong đĩa Red Hot Peppers của anh ta), nghệ sĩ piano James P.Johnson (ông vua của các nghệ sĩ piano), nhà soạn lời Duke Ellington và các giọng nam cao đầy triển vọng.


Trong vòng nửa thập kỉ sau đó, các dàn nhạc lớn dựa theo phong cách jazz đã trở nên phổ biến, còn những sáng tác ngẫu hứng vốn được tìm thấy trong các ban nhạc miền nam lúc này chỉ tồn tại ở vài nhóm nhạc nhỏ. Tình trạng suy thoái diễn ra đã đẩy các ban nhạc miền nam đến chỗ tan rã trong vòng một thập kỉ. Dư luận quần chúng không muốn được nhắc đến những ngày vàng son của thập kỉ 20 và thay vào đó là những năm thịnh vượng của nhạc khiêu vũ và ballad. Tuy nhiên khi Benny Goodman đột ngột trở nên nổi tiếng vào năm 1935, các ban nhạc mới cố gắng lấy lại hình ảnh của mình bằng cách thay đổi phong cách biểu diễn để trở nên mạnh mẽ hơh. Giai đoạn 1935 - 1946 được biết đến như là kỉ nguyên của các ban nhạc lớn với các dàn nhạc khổng lồ ngự trị trong biểu đồ nhạc Pop. Trong suốt thập kỉ này nhạc jazz là một phần quan trọng của nhạc Pop. Glenn Miller và Artie Shaw đã có hàng triệu đĩa nhạc bán chạy nhất và Benny Goodman, Count Basie và Duke Ellington là những cái tên mà ai cũng biết đến.

Trong những năm đó, nhạc jazz đã phát triển theo chiều nhiều hướng. Các nghệ sĩ mới (như là nghệ sĩ piano Art Tatum và Teddy Wilson, nghệ sĩ saxophone Lester Young và các nghệ sĩ trumpet Roy Eldridge và Bunny Berigan) đã kịp thay đổi phong cách, các ban nhạc lớn sắp xếp lại để trở nên hợp thời hơn, các ban nhạc miền nam được sống lại (Lu Watters' Yerba Buena Jazz Band là một lực lượng chính) và jazz thì trở thành một thể loại nhạc quan trọng ở châu Mỹ. Tuy nhiên thời kì vàng son của nó không còn nữa.

Sự phát triển liên tục của nhạc jazz khiến nó hiển nhiên trở thành một thể loại nhạc được công chúng yêu thích hơn những loại nhạc thông thường. Vào những năm đầu của thập niên 40, nhiều ca sĩ trẻ theo đuổi thể loại nhạc vũ điệu (đang sa lầy vào những sự sắp đặt rập khuôn và chưa tìm ra được hướng đi mới) và phát triển chúng thành những khái nhiệm của riêng mình trong biểu diễn. Giọng nữ cao Charlie Parker và nghệ sĩ kèn trumpet Dizzy Gillespie là những người sáng lập chính của một thể loại nhạc mới có tên là bebop hoặc là bop nhưng không phải chỉ có mình họ và sau đó chẳng bao lâu thì hàng tá các ca sĩ khác cũng nhập cuộc. Những vấn đề đã từng bị loại bỏ trước đây như các ca sĩ solo được yêu thích hơn trong các tác phẩm mang âm hưởng hài hòa (khiến cho các nhà phê bình phải đặt lại câu hỏi là "Âm điệu ở chỗ nào?"), sự hài hòa và sự nhịp nhàng trở nên phức tạp và loại nhạc này vắng bóng trong các cuộc khiêu vũ. Những đĩa nhạc được phát hành trong khỏang thời gian từ 1942 - 1944, nhằm ngăn chặn việc đánh thuế cao vào các trung tâm giải trí (như là việc một số sàn nhảy buộc phải đóng cửa) và sự lớn mạnh của các ca sĩ nhạc pop dẫn đến việc hình thành các ban nhạc lớn, và việc loại bỏ nhiều sàn nhảy ở các câu lạc bộ làm cho jazz trở thành một loại nhạc kén người nghe. Bằng cách nâng lên một tầm cao của nhạc nghệ thuật, jazz đã bị tách ra khỏi thế giới nhạc pop và số lượng khán giả của nó bị thu hẹp lại trong khi đó các thể loại nhạc đơn giản vươn lên để lấp khỏang trống đó.

Tuy nhiên sự suy tàn trong thương mại không làm cho quá trình phát triển của jazz trong nghệ thuật chậm lại. Bop, một thể loại được xem như là nhạc cấp tiến trở thành xu thế chủ đạo của nhạc jazz vào thập niên 50. Coll jazz (hoặc West Coast Jazz) là loại nhấn mạnh đến chất giọng mềm dẻo và sự hài hòa, và là loại phổ biến trong những năm giữa thập kỉ 50, và Bop mạnh phát triển từ Bebop cũng có chỗ đứng của nó. Thể loại này có một sự gia tăng nhanh chóng những người đi tiên phong trong việc tạo ra các khúc ngẫu hứng, điều đó tạo ra những bước đi nhanh chóng.

Khi Ornette Coleman và nhóm tứ ca của ông được hâm mộ tại Five Spot, New York vào năm 1959, nhiều thính giả - những người mà chỉ mới bắt đầu thưởng thức nhạc của Thelonious Monk bị bối rối. Ornette và bầu đoàn của ông nhanh chóng bắt đầu với thể loại hát bè và sau đó tạo ra những khúc ngẫu hứng tổng hợp tất cả các hợp âm. Cũng trong suốt thời gian này John Coltrane, người làm cho nhạc bop trở nên nhiều hợp âm như ông đã dùng trong "Giant Steps", đã bắt đầu đưa vào các phần đệm một cách chặt chẽ nhưng mạnh mẽ. Nghệ sĩ piano Cecil Taylor đã tạo ra một phong cách riêng cho jazz bằng những âm điệu trữ tình, và điệu nhảy của Eric Dolphy cũng đã góp phần tạo nên sự chuyển biến không ngờ. Đó là những người tiên phong của nhạc Jazz.

Vào những năm giữa thập kỉ 60, nhạc jazz tự do được biết đến do sự biểu diễn của những người chơi nhạc tự do. Trong một vài năm với sự lớn mạnh cảu Art Ensemble of Chicago và Anthony Braxton, phong cách biểu diễn tự do được sử dụng rộng rãi trong âm nhạc và vì thế vào thập nên 70 nhiều ca sĩ tiên phong đã bỏ nhiều thời gian để kết hợp những sáng tác ngẫu hứng với những sáng tác công phu. Lúc này âm nhạc không còn được phát triển một cách tự do nữa, mà các ca sĩ phải đưa các phong cách tự do vào trong các bản solo của mình để tạo nên những âm hưởng thích hợp với xu thế. Mặc dù loại nhạc này cho đến nay đã vị lu mờ bởi những thể loại khác từ những năm 70, nhưng nó là sự lựa chọn của những người chơi nhạc mang phong cách tự do, thoải mái và sự cách tân nó vẫn còn tiếp tục ảnh hưởng đến dòng nhạc jazz hiện đại.

Thập niên 70 được xem như là một kỉ nguyên lớn của sự hợp nhất, khi mà nhiều ca sĩ nhạc jazz nhập với các ban nhạc như rock, r&b và pop. Cho đến cuối thập kỉ 60, nhạc jazz và rock vẫn là hai thể loại khác biệt nhau, nhưng với sự gia tăng của các loại đàn phím điện tử, thì một sự hợp nhất đã diễn ra. Miles Davis, nhà cải cách của nhạc bop, một tay nhạc jazz và bop mạnh cừ khôi và những kiệt tác của ông trở thành các tác phẩm đi đầu trong quá trình hợp nhất khi ông thu đĩa "In A Silent Way" và "Bitches Brew". Các ban nhạc được thành lập bằng cách kết hợp lại với nhau giữa một bên mang phong cách ngẫu hứng của nhạc jazz và một bên là sức mạnh vũ điệu của nhạc rock; hầu hết các ban này đều nổi danh như Return To Forever, Weather Report và Mahavishnu Orchestra. Vào năm 1975, các hoạt động này đi vào thời kì thoái trào nhưng vì nó còn được ăn khách nên vẫn tồn tại, thường thì việc hợp nhất này là sự pha trộn hoặc mang hình thức của nhạc pop và nó được gán cho một cái tên hết sức ngượng ngùng là "Nhạc jazz hiện đại".

Lịch sử nhạc jazz từ 1920 - 1975 là một quá trình phát triển xô bồ trong đó mỗi một phong cách chỉ tồn tại trong vòng 5 hoặc 10 năm. Vào thập niên 80 nhạc bop đã làm cho nhạc jazz được xem trọng. Trong khi đó những nhóm nhạc của miền nam vẫn chơi theo một phong cách êm dịu (thể loại này phổ biến vào những năm 50), một vài thể loại nhạc jazz hiện đại vẫn mang phong cách của nó và là thể loại quan trọng trong những năm trước thập kỉ 80. Wynton Marsalis người mà tạo nên biểu tượng cho thập kỉ, trở thành một nghệ sĩ trumpet điêu luyện mặc dù trước đó ông là ca sĩ trong ban Miles Davis vào giữa thập niên 60. Cuối cùng ông cũng tạo được ấn tượng bằng việc khôi phục lại những nét mạnh của thời kì tiền nhạc bop, và kết quả là (thậm chí là ngay cả khi ông chơi các thể loại nhạc mới) Marsalis có thể đạt được một sự đổi mới bằng cách vay mượn và thay đổi các ý tưởng từ quá khứ.

Nhiều ca sĩ trẻ đã theo phong cách của Marsalis, tức là bỏ qua sự hợp nhất và thậm chí hầu hết những người này sử dụng nhạc bop mạnh làm nền cho âm nhạc của họ. Đúng hơn đó là một sự chững lại trong phong cách biểu diễn, một phong cách dù trải qua quãng thời gian khỏang 20 năm vẫn giống như ngày nó mới ra đời, nhưng vào thập niên 90 nhiều ban nhạc trẻ "Young Lions" cuối cùng cũng đã phát triển phong cách của họ và bắt đầu tạo ra các cải cách đầu tiên.

Gần như các phong cách của nhạc jazz vẫn đa dạng vào thập niên 90 bao gồm các ban nhạc miền nam, jazz cổ điển, loại nhạc jazz trung dung, bop, bop mạnh, post-bop, loại nhạc mới và cả các ban nhạc hợp nhất. Sự tiến triển và sự phổ biến của nhạc jazz đã bị chững lại trong suốt 20 năm qua. Vì thế một tương lai cho nó là khó xác định được, tuy nhiên các đĩa nhạc jazz vẫn tồn tại và có thể dự đoán rằng nhạc jazz sẽ vẫn sống.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét