Thứ Sáu, ngày 29 tháng 5 năm 2009

Phương pháp thực hành hát



Phần 10:

CHẾ ĐỘ LUYỆN TẬP

Khi nói đến chế độ luyện tập và phương thức luyện tập, ta chia ra những chế độ chung và những phương thức cụ thể luyện tập một bài hát đã lựa chọn. Chế độ chung bao gồm việc luyện tập hàng ngày, việc bảo vệ, phát triển giọng hát thông qua ăn uống, giấc ngủ, bảo vệ cổ họng,… còn phương thức cụ thể luyện tập một bài hát đã chọn sẽ là những bước cụ thể cần tiến hành khi tập một bài hát.

1)Chế độ chung cần thiết cho người hát:
-Luyện tập phù hợp với khả năng, sức khoẻ, không quá ham mê mà bắt giọng hát phải làm việc quá sức. Nhưng dù tập ít hay tập nhiều, điều quan trọng là duy trì thường xuyên, ngày nào cũng tập, trước hết là những bài tập luyện hơi thở, luyện hát liền tiếng, hát nhanh, hát nảy tiếng. Luôn luôn chú ý đến sự điều độ, phát triển dần, không gượng ép. Bài tập luyện hơi thở cũng phải từng bước kéo dài dần, luyện âm thanh cũng mở rộng tầm cữ lên cao xuống thấp dần dần…
-Với một số lứa tuổi nhi đồng, thiếu niên… phải tuân thủ nghiêm ngặt những yêu cầu bảo vệ giọng, luyện giọng trong thời kì trước khi vỡ giọng, khi vỡ giọng và sau khi vỡ giọng.
Ngoài ra là một số chế độ rất cần thiết với người học hát, đó là vấn đề ăn ngủ, bảo vệ cổ họng, nhưng tất nhiên là những đòi hỏi nghiêm ngặt cho những người học hát và hát chuyên nghiệp, lấy hát làm nghề nghiệp chính, còn với học sinh, với phong trào sẽ là những kiến thức cần biết nhưng áp dụng nhiều ít là tuỳ theo hoàn cảnh và điều kiện cho phép.

GIẤC NGỦ:
Ngủ là thời gian nghỉ ngơi quan trọng của cơ thể, là thời gian phục hồi năng lượng của tế bào thần kinh não, để tiếp tục những khả năng hưng phấn hàng ngày. Giấc ngủ đầy đủ để phục hồi năng lực phải kéo dài từ 7-8 giờ trong một ddêm cho người lớn và 9 giờ cho trẻ em. Tỉ lệ thời gian này tuỳ thuộc vào bản chất hệ thần kinh từng người.
Nên ngủ vào một giờ tương đối cố định, thành thói quen, sẽ dễ ngủ hơn. Người hát mà mất ngủ thì thần kinh sẽ không nhạy cảm, mà như ta đã biết, hệ thần kinh tác động lớn đến giọng hát; thanh đới mệt, tiếng hát sẽ không được trong sáng, thoải mái và khoẻ khoắn, diễn xuất không được hào hứng, không linh hoạt.
Trước ngày biểu diễn nên ngủ đủ giấc, không được chơi khuya. Nếu có thể, vào hôm biểu diễn, buổi trưa nên ngủ khoảng 45 phút, sẽ rất có lợi cho giọng hát.

ĂN UỐNG:
-Không nên ăn quá nhiều, quá no trước khi biểu diễn làm cho dạ dày phải làm việc nhiều, gây mệt mỏi cho cơ thể, nặng bụng, khó nén hơi, ghìm hơi lúc hát.
-Không nên ăn quá chua, quá cay, quá nóng, quá lạnh. Trước khi biểu diễn càng không nên uống lạnh, ăn cay, vì như ta đã biết trong mồm và cuống họng cũng như toàn bộ cơ quan phát âm được bao phủ bởi một màng mỏng gọi là niêm mạc, mà những niêm mạc này dễ bị kích thích bởi những gia vị của đồ ăn, thức uống.

BẢO VỆ CỔ HỌNG, GIỌNG HÁT:
-Phải giữ gìn, tránh tình trạng viêm nhiễm đường hô hấp (viêm mũi, viêm họng) vì khi bị viêm những bộ phận này, giọng hát sẽ mất đi những cảm giác quen thuộc đã có khi hát, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giọng hát. Khi bị viêm đường hô hấp, niêm mạc sẽ bị tấy đỏ, tiết nhiều nước nhầy trong suốt, dần dần đặc lại thành đờm, thành mủ.
Phải tập thở bằng mũi, nhất là về mùa đông để hạn chế luồng khí lạnh và bụi. Mùa đông phải giữ ấm chân và cổ họng, chú ý súc miệng nước muối trước khi đi ngủ. Ngửa cổ họng cho nước muối xuống sâu trong họng và xúc mạnh, lâu.
Nếu bị viêm amyđan phải được bác sĩ tai mũi họng có kinh nghiệm tiến hành, vì kinh nghiệm cho thấy việc cắt bỏ amyđan khôn thận trọng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến giọng hát. Tốt nhất là giữ gìn để amyđan không phát triển và không bị viêm bằng cách thực hiện những quy tắc vệ sinh cổ họng.
Một việc làm quan trọng để bảo vệ giọng hát là duy trì luyện thanh hàng ngày và luyện thanh trước khi biểu diễn, đưng bao giờ hát khi chưa luyện thanh. Điều này cần áp dụng cả cho những người hát không chuyên, cho học sinh trước khi biểu diễn. Nếu là hát đồng ca, hợp xướng, cần cho luyện thanh tập thể bằng vài bài tập nhẹ, như kểu “khởi động” của vận động viên thể thao trước khi luyện tập hoặc thi đấu, như người múa làm những động tác cơ bản trước khi tập hoặc diễn tiết mục, như người nhạc công luyện ngón trước khi tập, diễn tiết mục.

2.Những chế độ, phương thức cụ thể khi tập một bài hát:


Có một số bước cụ thể cần tiến hành khi tập một bài hát mới, nếu tuân thủ được, việc luyệ tập sẽ có hiệu quả tốt.

*VỠ HOANG BÀI HÁT:
-Đọc lời ca một vài lần cho quen, sau đó đọc một, hai lần có tính diễn cảm. Việc đọc lời ca trước như vậy rất có lợi, vì lời ca dễ đọc hơn nốt nhạc. Qua việc đọc lời ca, ta còn phần nào hiểu được nội dung của bài hát để bước đầu có những hưng phấn, những cảm xúc khi tập hát, như vậy sẽ dễ thuộc, dễ tìm hình tượng diễn cảm của bài hát.
-Ghép lời với nhạc: Nếu biết xướng âm tốt thì nên tập phần nhạc bằng cách đọc xướng âm, thỉnh thoảng kiểm tra giai điệu bằng một nhạc cụ nào đó (ghi ta, măng-đô-lin, pianô…) Nếu xướng âm chưa vững, có thể đánh giai điệu trên đàn rồi ghép với lời ca.
-Nên tập từng câu, từng đoạn, tập kĩ những chỗ khó, đoạn khó cho thật chuẩn xác. Đừng lướt qua, bỏ qua những chỗ có sai sót về cao độ và trường độ. Nếu không, khi đã ăn sâu chỗ sai vào tiềm thức thì sau này rất khó sửa, phải sửa đi, sửa lại rất mất thời giờ.
-Thoạt đầu tập ở tốc độ chậm, đến khi hát chính xác về cao độ và trường độ, tiết tấu mới tập đúng tốc độ qui định của bài.
-Đánh dấu những chỗ lấy hơi phù hợp. Trường hợp câu nhạc và lời ca không thống nhất được cùng một chỗ ngắt câu thì nên ưu tiên ngắt câu theo ý của lời ca để khỏi làm sai ý của câu hát.

*GỌT GIŨA, TẬP SÁNG TẠO:
Khi đã thuộc bài, là lúc phải trau chuốt, gọt giũa từng câu, từng đoạn.
-Trước hết, hết sức chú ý hát rõ lời, nhả chữ cho chính xác. Trong bài có những chữ khó phát âm thì phải tập kĩ. Một mặt phải đảm bảo sự âm vang cần thiết của âm thanh, mặt khác phải đảm bảo rõ lời. Với những chữ tận cùng bằng phụ âm đóng như C, CH, N, NH, NG, T, P… mà lại có trường độ kéo dài thì ta cần kéo dài nguyên âm trong chữ đó, cuối cùng đóng phụ âm lại, chuyển thành một nguyên âm vang ở mũi.
Hát rõ lời là rất quan trọng, nhưng không vì thế mà phát âm một cách máy móc, khô khan, cộc lốc, khiến câu hát trở thành rời rạc.
-Dựa vào nội dung, chất liệu âm nhạc để biểu hiện được phong phú, sâu sắc, có sáng tạo. Đừng quá bắt chước lối thể hiện bài hát của một vài ca sĩ đã thành danh, vì học người đi trước là cần thiết, nhưng đừng tự hạn chế sự sáng tạo của riêng mình!
--------------------
CHƯƠNG II
PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT HÁT GIAI ĐOẠN I

Chương I là chương chủ yếu dành cho phần lí thuyết, giới thiệu về cấu trúc của bộ máy phát âm, về tổ chức âm thanh, xác định và phân loại giọng hát, sơ qua một số kĩ thuật hát, những cơ sở kiến thức về xử lí ngôn ngữ trong ca hát, cách lựa chọn bài hát và chế độ luyện tập.
Ở chương II chúng ta sẽ chuyển sang giai đoạn thực hành bước I, áp dụng những lí thuyết đã được lĩnh hội vào trong công việc luyện thanh và ứng dụng trong việc thể hiện bài hát.
Luyện thanh là một công việc cực kì quan trọng trong quá trình phát triển một giọng hát, là lúc ta biến cái vô thức thành ý thức, biến cái bản năng thiên phú thành kĩ thuật, nghệ thuật
Trong phong trào ca hát, không hiếm khi ta gặp những người có giọng hát bản năng với âm sắc đẹp, tầm cữ rộng, có sự phối hợp khá ăn ý của hơi thở, với vị trí thanh quản chính xác. Những người này ngay từ nhỏ đã đam mê ca hát và có được những thói quen tốt trong ca hát, cũng theo bản năng. Họ hát hồn nhiên, chẳng cần phải nghĩ ngợi xem phải hướng âm thanh vào đâu, phải lấy và đẩy hơi ra sao…
Nhưng nếu cứ tiếp tục sử dụng giọng hát trời cho có những điều kiện thuận lợi ấy, thì họ có thể sẽ nhanh chóng để mất đi những phẩm chất có sẵn ấy nếu như không bắt đầu học tập kĩ thuật hát một cách có hệ thống, nắm được những cơ sở của kĩ thuật phát ra âm thanh. Những bản năng thiên nhiên chỉ thay thế được kĩ thuật khi bộ máy phát thanh còn trẻ trung, tươi mới. Sử dụng giọng hát theo kiểu ấy trước hết làm mất dần vẻ đẹp trong âm sắc giọng, dần dà sẽ gặp khó khăn khi hát ở những âm cao và trầm, nhất là âm khu cao.
Luyện thanh tức là bằng một số bài tập từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó để kết hợp cùng một lúc lấy hơi, nén hơi, đẩy hơi, mở mồm với những hoạt động của môi, lưỡi, hàm dưới, hàm ếch cứng, hàm ếch mềm, tìm cảm giác về vị trí âm thanh… Trong luyện thanh, ta sử dụng một số nguyên âm cơ bản: i, ê, a, ô, u hoặc kết hợp nguyên âm i với các nguyên âm khác để có: ia, iê, iô, iu, rồi kết hợp một số phụ âm. Sở dĩ không sử dụng nguyên âm e, vì nếu phát âm không chú ý, âm thanh dễ bị toè, bẹt, là điều hạn chế việc đưa âm thanh lên vị trí cao.
Các bài tập luyện thanh cần sử dụng theo cách lên cao, xuống thấp dần từng nửa cung, và khi bắt đầu nên lựa chọn những âm trong âm khu trung bình của giọng hát để làm điểm xuất phát, từ đó lên cao dần và xuống thấp dần, nhưng giai đoạn đầu cũng nên hạn chế trong phạm vi những âm thuận lợi cho loại giọng đó, chẳng hạn giọng nam cao từ âm đô1 (là âm thanh thuộc âm khu trầm, nhưng không quá thấp) lên đến Mi2; nam trung từ Xi bát độ nhỏ đến Rê2; nữ cao từ Fa1 đến Mi2 hoặc Fa 2; nữ trung-trầm từ Xi bát độ nhỏ đến Rê2…
Trong các bài luyện thanh ở Chương II và Chương III ta sẽ gặp một số vấn đề về kĩ thuật mà ở Chương I mới đề cập sơ qua ở dạng lí thuyết. Đó là vấn đề xử lí những nốt chuyển giọng của giọng nam và giọng nữ từ âm khu này sang âm khu khác; vấn đề xử lí âm thanh mở và âm thanh đóng; âm khu hỗn hợp… Muốn thế cần phải hiểu được kĩ hơn sự phân chia âm khu trong giọng nam và giọng nữ.

*ÂM KHU CÁC GIỌNG NAM:
Một người mới học hát, khi hát một bài tập hoặc một bài hát có tầm cữ từ thấp tới cao, đến những nốt ở chỗ chuyển giọng, người đó sẽ cảm thấy khó hát, âm sắc thay đổi, không giống như âm sắc ở dưới chỗ chuyển giọng, và sau đó nếu còn hát lên cao nữa thì chỉ lên được một, hai nốt rồi phải chuyển sang hát bằng giọng giả (falset). Nghe âm thanh, ta thấy ở âm khu dưới giọng hát âm vang tương đối khoẻ và thoải mái và nếu để tay lên ngực khi hát, sẽ thấy lồng ngực rung lên, đặc biệt là giọng nam trầm, cảm thấy như âm thanh đựoc phát ra từ lồng ngực. Cũng vì thế mà âm thanh ở âm khu này gọi là âm khu ngực, cộng minh ngực. Với giọng nam, cao hơn chỗ chuyển giọng là bắt đầu âm khu giọng giả. Âm thanh ở âm khu này yếu, mờ, nghèo nàn ở âm sắc và như không có sức sống, không sinh động nữa. Giọng giả vang không phải ở ngực nữa, mà là ở đầu, cho nên gọi là giọng óc.
Có sự khác biệt này là do mức độ hoạt động khác nhau của thanh đới ở giọng ngực và giọng giả: Ở âm khu ngực, thanh đới siết chặt lại với nhau (khép kín), toàn phần chiều dài của thanh đới rung lên . Ở âm khu giọng giả, thanh đới không khép kín, mà ở giữa chúng có những khe hở, không khí liên tục lọt qua các khe hở này, thanh đới không rung lên toàn phần, mà chỉ rung ở hai bên mép thôi.
Thanh đới khép kín và rung lên toàn phần tạo ra âm thanh vang khoẻ, phong phú về âm sắc và linh hoạt. Ngược lại thanh đới không khép kín và không rung lên toàn phần, tạo ra những âm thanh yếu, xỉn, phều phào.
Trước đây vào thế kỉ 17, 18, trong trường phái ca hát cổ điển các nam ca sĩ khi hát chủ yếu sử dụng âm khu ngực. Hát tới những nốt cao, quá chỗ chuyển giọng thì hát bằng giọng giả. Nhưng từ năm 1825, các ca sĩ Ý áp dụng phương pháp hát giọng hỗn hợp (mixte), còn gọi là giọng “pha” (pha trộn) hoặc giọng hỗn hợp đóng tiếng (voix mixte sombrée), sau đó được ca sĩ người Pháp Dubré hoàn chỉnh khiến ông ta có thể hát lên tới nốt đô 2 (tức là nốt “đố” cao nhất của giọng nam cao) mà không phải là giọng giả.
Hiện nay trong phong trào ca hát không chuyên nghiệp (trừ lĩnh vực nhạc nhẹ thường có âm vực không rộng) nhiều người có giọng tốt nhưng chưa được học hoặc học chưa đúng nên không hát được nốt cao, lúc biểu diễn luôn phải hạ thấp bài hát xuống (hạ tone), ảnh hưởng đến chất lượng nghệ thuật (dịch giọng xuống thường làm cho màu sắc âm nhạc tối đi). Có người hát lên được nốt cao, nhưng hát bằng âm thanh “mở”, nốt cao nghe rất căng, bị chà xát nơi cổ, nếu cứ tiếp tục hát như vậy sau một thời gian thanh đới sẽ bị tổn thương, giọng hát dần dần có tạp âm, rè và xỉn.
Cho nên muốn làm cho giọng hát không chỉ giới hạn trong âm khu ngực, phải hát bằng phương pháp âm thanh hỗn hợp đóng tiếng, gọi tắt là âm thanh “đóng” ở âm khu cao, hỗn hợp giữa giọng ngực và giọng giả.

*ÂM THANH MỞ VÀ ÂM THANH ĐÓNG:
Âm thanh mở là âm thanh hát ở âm khu ngực, vị trí âm thanh không sâu, có cảm giác vị trí ở chân răng hàm dưới, hàm dưới buông lỏng, không đưa ra phía trước để âm thanh không bị bẹt và gằn cổ.
Khi hát với âm thanh đóng, phải mở rộng phần trong của mồm bằng cách buông lỏng hàm dưới, nhấc hàm ếch mềm lên một cách mềm mại. Nguyên âm a hát tròn tiếng, pha chất tròn và gọn của các nguyên âm ô và u. Càng hát lên cao càng phải mở rộng phần trong của mồm, vị trí âm thanh phải chụm, cảm giác như ở đỉnh sống mũi. Phải tăng cường nén hơi thở, thở sâu và nén chặt.

*ÂM KHU CÁC GIỌNG NỮ:
Như ta đã biết, giọng nữ chia làm 3 âm khu: âm khu thấp nhất là âm khu ngực, âm khu gồm những nốt ở khoảng trung của giọng là âm khu hỗn hợp, âm khu cao là âm khu giọng óc.
Âm khu hỗn hợp của giọng nữ mang tính chất tự nhiên, có sẵn. Giọng óc của các giọng nữ có thể coi như sự phát triển cao của giọng hỗn hợp, khó phân biệt chỗ chuyển giọng và chỉ thay đổi chủ yếu về âm lượng. Giọng óc của giọng nữ chỉ cho thấy sự khác biệt với giọng hỗn hợp ở những nốt cao nhất của giọng hát.
Trước khi chuyển sang các bài tập luyện thanh và ứng dụng vào bài hát, đó là vấn đề tư thế cơ thể trong ca hát.
Tư thế cơ thể khi hát phải đáp ứng được những yêu cầu như: thuận lợi cho việc phát âm, biểu hiện tình cảm, chuyển động trên sàn diễn hài hoà đẹp mắt.
Một người có giọng hát hay, có kĩ thuật, nhưng khi đứng hát lại có tư thế xấu, nét mặt, dáng người không phù hợp với nội dung âm nhạc và lời ca đang diễn xuất, thì sẽ hạn chế sự truyền cảm đến người nghe, vì người nghe không chỉ nhắm mắt nghe tiếng hát, mà còn thưởng thức những diễn xuất của ca sĩ thể hiện bằng nét mặt, đôi tay, dáng người…
Cho nên trước hết cần phải có tư thế cơ thể phù hợp với hình thức, yêu cầu biểu diễn: Tư thế đứng thẳng khi hát đồng ca, hợp xướng; tư thế đứng với các cử động diễn xuất khi hát đơn ca; những tư thế đứng, ngồi, đi lại… khi hát trong các ca cảnh, ca kịch. Tuy vậy trên thực tế, tư thế đứng hát vẫn là tư thế được sử dụng nhiều hơn cả.
Tư thế đứng hát phải thuận lợi cho việc lấy hơi, nén hơi và phát âm. Muốn thế khi đứng hát, sức nặng của cơ thể hầu như dồn vào một chân, còn chân kia (thường là chân trái) đưa lên phía trước một chút (độ nửa bàn chân). Không nên để trọng lượng cơ thể dồn đều xuống cả hai chân như khi đứng nghiêm, hoặc dang hai chân làm cho cơ thể căng cứng, không đẹp mắt. Trọng lượng cơ thể dường như vào phía sau chỗ thắt lưng, cơ thể không chúi về phía trước hoặc ngả về phía sau. Hai vai hơi kéo về phía sau để cho ngực được thoải mái. Mắt nhìn thẳng, tự hiên và thoải mái, không ngửa cổ hoặc cúi đầu xuống. Hai tay buông lỏng, bàn tay để tự nhiên, không nắm chặt hoặc duỗi thẳng cứng nhắc.
Bất cứ một sự căng cứng nào của cơ thể đều ảnh hưởng không tốt đến bộ máy phát âm. Việc biểu hiện tình cảm bằng nét mặt và tay phải hài hoà, phù hợp. Có người khi hát thì mắt trợn ngược, hoặc chớp mắt liên tục, nhìn ngang, nhìn ngửa. Một khuyết tật nhiều người mắc phải cần tránh, đó là nhíu lông mày, nhăn trán… do khi tập muốn tưởng tượng vị trí âm thanh cao, tập trung vào phoá trên sống mũi giữa hai lông mày, nên dần dần thành một cố tật không đẹp mắt.
Khi hát cần sử dụng đúng mức động tác tay. Không nên quá hạn chế cử động của tay, vì nếu hát từ đầu tới cuối bài hát mà tay chỉ buông thõng hoặc nắm vào nhau ở trước ngực thì cơ thể bị gò bó, kém sinh động. Những động tác tay đúng lúc, đúng chỗ sẽ có tác dụng truyền cảm tốt.
Nói tóm lại, tư thế ca hát tốt vốn là tư thế vững vàng, khoẻ mạnh, nhưng vẫn đảm bảo được vẻ mềm mại, tự nhiên, thoải mái, tạo nên một dáng dấp đẹp mắt. Mọi chuyển động, hoạt động của người hát trên sàn diễn đều phải hài hoà, gắn bó với nội dung tiết mục.
Tất cả những yêu cầu này phải chú ý từ khi tập các bài luyện thanh để tạo dần một thói quen tốt, thuận lợi cho việc ứng dụng vào bài hát sau này. Việc uốn nắn sửa chữa ngay từ lúc luyện thanh không được coi nhẹ, để tránh những cố tật về tư thế hát, sau này rất khó sửa./.
I. CÁC BÀI LUYỆN THANH


1.Hát liền tiếng (Legato):

*Bài tập 1:

Lên dần, xuống dần từng nửa cung đến âm cao nhất và thấp nhất phù hợp
Ở bài tập này chủ yếu dùng hai nguyên âm i và a. Nguyên âm i về bản chất là nguyên âm tập trung nhất, sắc nhọn và cao nhất về vị trí, cho nên được sử dụng để xác định vị trí âm thanh cao, và khi chuyển sang nguyên âm a, chú ý giữ nguyên vị trí âm thanh đã có, không vì chuyển nguyên âm mà vị trí tụt xuống. Phụ âm m là phụ âm thuận tiện để hướng nguyên âm i và nguyên âm a lên cộng minh đầu, như khi ta tập ngậm mồm hát “hưm”

*Bài tập 2:

Ở bài tập này yêu câu cũng giống như bài 1, dùng nguyên âm i và phụ âm m để tìm và xác định vị trí âm thanh cao, chuyển sang nguyên âm a để giữ nguyên vị trí âm thanh. Bật âm thanh (attacca) nhẹ, mềm.
Chú ý: Vị trí âm thanh có giữ được không là phải dựa trên cơ sở cách đẩy hơi đều đặn, nén hơi, không buông lỏng.

*Bài tập 3:

Bài tập số 3 này được xây dựng trên cơ sở nguyên âm a và phụ âm l. Dùng phụ âm l với mục đích tạo cử động cho lưỡi, tạo một bật âm (attacca) mềm mại, sau khi bật âm thanh phát ra cùng một lục phụ âm l và nguyên âm a, đầu lưỡi đặt chấm vào chân răng hàm dưới, không co lưỡi lại hoặc cong lưỡi lên.
Bài tập này so với hai bài tập trước có thêm một quãng 4 (Son – Đô) trong khi hai bài trên toàn là những quãng 3, nhằm mục đích giúp cho các bạn hướng âm thanh lên vị trí cao qua quãng nhảy tương đối rộng và giữ được vị trí khi xuống thấp (Đô – Son)

*Bài tập 4:

Bài tập số 4 được xây dựng trên cơ sở các nguyên âm a và ô. Nguyên âm a “mở” hơn, nguyên âm ô “đóng” hơn. Phải hát với hơi thở sâu, đẩy hơi đều đặn, âm nọ liền với âm kia, vị trí âm thanh phải nông, gọn (tất nhiên so với nguyên âm a, nguyên âm ô tròn hơn, đóng hơn, nhưng giữ vị trí âm thanh thống nhất khi thay đổi nguyên âm). Nguyên âm a không hát bè, toả mà hát tròn tiếng gần như âm ô.
Với giọng nữ, khi luyện thanh, cần đặc biệt chú ý những nốt chuyển giọng từ âm khu ngực sang âm khu hỗn hợp, cần giữ được sự thống nhất giữa hai âm khu, xoá dần ranh giới giữa âm khu ngực và âm khu hỗn hợp. Ở giọng nữ, việc luyện tập để có một âm vực với âm thanh đều đặn, không có sự thay đổi rõ rệt, thì tập trung chủ yếu vào âm khu giọng hỗn hợp. Không nên sử dụng giọng ngực nhiều quá, đặc biệt không nên hát những âm cao bằng giọng ngực.
Riêng đối với giọng nữ trầm có thể sử dụng giọng ngực nhiều hơn. Còn với giọng nữ cao trữ tình và nữ cao màu sắc thì nhiệm vụ quan trọng là tập phát triển âm khu cao của giọng. Khi xuống những nốt thấp nhất của âm vực mới hát bằng giọng ngực.
Cần chú ý rằng tới nốt chuyển giọng, lúc đầu âm lượng có thể nhỏ đi, nhưng cần phải đưa âm thanh ra ngoài, không để cho âm thanh hút sâu vào trong, nếu không âm sắc sẽ mờ và tối. Nén hơi thở liên tục và đều đặn.
Với giọng nữ cao hoặc giọng nữ trung mà sử dụng giọng ngực hniều quá thì cần làm ngắn bớt âm khu ngực đi và dài âm khu hỗn hợp ra. Bắt đầu tập bằng những nốt cao hơn nốt chuyển giọng rồi hạ thấp dần xuống, cố gắng giữ âm thanh hỗn hợp xuống qua chỗ chuyển giọng đã quen hát từ trước.

*Bài tập 5:

Bài tập số 5 được xây dựng trên cơ sở những âm đi từ cao xuống thấp nhưng liền bậ, trừ một quãng 5 (cuối tiết nhạc 1 chuyển sang đầu tiết nhạc 2 Fa – Đô) Nếu hát liền không lấy hơi giữa hai tiết nhạc. Vẫn là một bài tập hát liền tiếng (legato), nhưng còn có tác dụng giải quyết sự thống nhất giữa các âm khu, nhất là với giọng nữ, chuyển từ âm khu hỗn hợp sang âm khu ngực. Vì bật âm (attacca) từ nốt cao, với nguyên âm ghép i + a và phụ âm l tạo điều kiện tìm được vị trí âm thanh cao, và từ đó hát liền tiếng, đẩy hơi đều đặn trên cơ sở có sự khống chế (nén hơi). Khi đi xuống cố gắng giữ vị trí âm thanh đã có từ nốt cao nhất để không bị tụt xuống giọng ngực, đó là một trong những phương thức xoá nhoà ranh giới giữa hai âm khu.
Ở những tốc độ hanh dần, chú ý không bỏ nốt, không díu nốt, chuẩn xác về cao độ, nhưng luôn giữ cho âm thanh liền tiếng.

*Bài tập 6:

Bài tập số 6 là bài ngoài những yêu cầu về hát liền tiếng, giữ vị trí âm thanh, tạo sự thống nhất về chất lượng âm thanh ở các âm khu, khống chế (nén) hơi thở, đẩy hơi đều đặn… còn đặc biệt đặt ra yêu cầu về độ chuẩn xác âm thanh, nhất là quãng nửa cung (2 thứ) giữa Xi – Đô lúc đi lên và Fa – Mi lúc đi xuống.
Người tập chú ý đến cách lấy hơi và đẩy hơi của mình, chú ý đến khẩu hình bên ngoài và đặc biệt tập nhấc hàm ếch mềm cùng một lúc với đẩy hơi vào bằng cách tưởng tượng như ngáp khi buồn ngủ, hàm dưới buông lỏng.
Với nam giới, dễ dàng phát hiện hàm ếch có nhấc lên hay không bằng cách theo dõi trước gương, hoặc đặt tay nhẹ vào cổ họng xem chỗ yết hầu có tụt xuống thấp hay không.
Khi ta nuốt thức ăn, nuốt nước bọt, yết hầu đẩy lên cao. Khi ta ngáp ngủ, yết hầu tụt thấp xuống, còn lại ở trạng thái bình thường chỗ lộ hầu nằm yên, không dâng lên và cũng không tụt xuống./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét