Thứ Năm, ngày 28 tháng 5 năm 2009

Một số thủ pháp trong việc sử dụng hợp âm

Nguyên bản: Essential Chord Progression - Gary Ewer

Người dịch chủ động đặt lại tên topic cho phù hợp với định mục đích

Vòng hợp âm cơ bản

Vòng hợp âm cơ bản

Eliminating Chord Muddle

Chuỗi hợp âm là một phần của công việc viết nhạc làm người sáng tác nhiều khi phải bối rối. Với những người còn chưa hiểu rõ về chuỗi hợp âm, nếu sử dụng tốt thì sẽ là một sự thành công, còn nếu không tốt thì sẽ biến thành một mớ hợp âm lộn xộn (chord muddle).

Đã bao giờ bạn cảm thấy rằng bạn không thể tìm được một hợp âm nào mà từ đó có thể phát triển được sang hợp âm kế tiếp. Đã bao giờ bạn cảm thấy rằng chuỗi hợp âm của bạn chỉ đi lang thang ngoằn ngoèo từ hợp âm này sang hợp âm khác mà không mang một cảm hứng chủ đạo gì cả? Đó là sự luẩn quẩn của chuỗi hợp âm (chord muddle).

Có thể bạn đã dành nhiều thời gian trước đây để học lý thuyết về việc chuyển tiếp giữa các hợp âm (và tôi tin là bạn đã làm điều này), nhưng bây giờ bạn cần phải làm quen với việc viết những ca khúc.

Trong cuốn sách này, tôi đã đưa vào nhiều chuỗi hợp âm hữu ích. Hãy sử dụng chúng một cách thoải mái trong các ca khúc của bạn. Chuỗi hợp âm gần như không bị bảo về về bản quyền, do đó bạn không cần có sự cho phép của ai để được sử dụng chúng.

Về những hợp âm trong cuốn sách nhỏ này.

Những hợp âm trong quyển sách này hoàn toàn có thể biến đổi được, Tất nhiên rằng danh sách này không thể toàn diện, thấu đáo được, nhưng tôi hy vọng rằng chúng đủ để thôi thúc bạn trong công việc viết nhạc.

Vì vậy tôi khuyến khích bạn nắm bắt những chuỗi hợp âm này và cải biến chúng với bất kỳ cách nào bạn thích. Đừng lo ngại để cho đôi tai của bạn đưa ra quyết định cuối cùng. Nếu bạn thích thứ gì đó mà bạn gặp, hãy sử dụng chúng. Nếu bạn thích một chuỗi hợp âm, nhưng muốn thay đổi chúng, thì đó là việc bạn nên làm.

Tôi đã viết những hợp âm này bằng các ký hiệu hợp âm trên cần đàn guitar, nhưng đây chỉ là một sự đề nghị. Bạn có thể chơi những hợp âm này trên guitar, piano, organ hay bất cứ cách nào phù hợp với bài hát của bạn. Bạn cũng có thể áp dụng tương tự với các ký hiệu âm nhạc. Những nốt nhạc chỉ đơn giản là chỉ ra những gì tạo thành hợp âm. Luôn luôn sử dụng trí tưởng tượng và khả năng cảm nhận của mình để quyết định bạn sẽ chơi những hợp âm đó như thế nào.

Những trang sách này đưa cho bạn danh sách những chuỗi hợp âm hữu dụng. Quyết định sử dụng chúng như thế nào hoàn toàn tùy thuộc vào bạn. Nên nhớ rằng, sự giản dị quan trọng hơn sự phức tạp. Không phải vì cuốn sách này có hàng tá những chuỗi hợp âm thì có nghĩa là bạn phải cố gắng sử dụng chúng càng nhiều càng tốt trong một bài hát. Thực tế, hầu hết các bài hát đều trở nên lộn xộn, khó hiểu và gây bối rối nếu như bạn cố gắng sử dụng nhiều hơn 2 hay 3 chuỗi hợp âm khác nhau. Một mục đích quan trọng của việc viết nhạc là phải tạo ra một thứ gì đó mà người nghe sẽ ghi nhớ, và họ sẽ không nhớ những bài hát nào có quá nhiều hợp âm, giai điệu hay ca từ.

Vậy tại sao tôi muốn giới thiệu những hợp âm này?

Tôi muốn bạn biết một vài chuỗi hợp âm hiệu quả. Như tôi đã nhấn mạnh trước đây, chúng không chỉ đơn giản là một chuỗi nhiều hợp âm đứng cạnh nhau, mà tôi nghĩ chúng sẽ làm cho bạn suy nghĩ của bạn sáng tạo hơn. Làm quen với những chuỗi hợp âm này sẽ giúp bạn luyện tập trong việc tạo ra những chuỗi hợp âm của riêng mình và cho bạn cảm giác thích thú khi hoàn thành tác phẩm.

Hãy chơi những chuỗi hợp âm này bằng guitar, keyboard hay bất cứ nhạc cụ nào khác có thể chơi được hợp âm. Thử dùng chúng với nhiều nhịp phách khác nhau. Thử giữ cho một số hợp âm được chơi lâu hơn và một số khác ngắn hơn để thấy nó sẽ thay đổi thế nào. Nói ngắn gọn lại, hãy thật sáng tạo!

Một vài thuật ngữ
Khi miêu tả một chuỗi hợp âm, thông thường ký hiệu chúng bằng bậc hợp âm (chord number) sẽ dễ dàng hơn bằng các chữ cái. Lý do là sự tương tác giữa các hợp âm với nhau chỉ là tương đối. Nếu bạn đang làm việc với C major, những gì mà C major và G major tác dụng lẫn nhau sẽ tương tự như những gì mà B flat major và F major tương tác lẫn nhau. Vì vậy, sẽ dễ dàng hơn nếu như ta gọi tên hợp âm dựa trên nốt đầu tiên là I – chord (“one-chord”) và V – chord (“five-chord”). Trong phần 2 – 5 hợp âm được ký hiệu bằng chữ số La mã (Roman).

Những chuỗi hợp âm bạn tìm thấy ở đây được phân loại bằng nhiều cách. Một vài thì đơn giản, gồm 3 hay 4 hợp âm, còn lại thì dài hơn và khó đoán biết hơn. Một số thì về cơ bản là chuỗi hợp âm trong major key, và còn lại thì nằm trong minor key. Tôi muốn khuyên bạn nên ngồi xuống, cầm cây guitar, và chơi hết qua các chuỗi hợp âm này, và nắm bắt lấy cảm xúc chung của từng chuỗi hợp âm.

Tôi viết mỗi hợp âm thường dài 2 nhịp, nhưng tất nhiên đó hoàn toàn là sở thích cá nhân. Bạn có thể tạo ra một bài hát mà mỗi hợp âm được chơi trong trọn 1 ô nhịp. Hoặc bạn có thể thay đổi các hợp âm liên tục qua mỗi ô nhịp. Điều đó tùy thuộc vào bạn.

Phần 1 – Vòng hợp âm khóa trưởng

Những vòng hợp âm đơn giản
6 chuỗi hợp âm đầu tiên đều bắt đầu và kết thúc ở hợp âm bậc I. Đây là những vòng hợp âm đơn giản nhất có thể, và hầu như sẽ là những vòng hợp âm mà bạn sẽ sử dụng nhiều nhất. Lợi thế khi lựa chọn những vòng hợp âm này là chúng chắc chắn, chặt chẽ, và có thể dự đoán được như những chiều hướng tốt nhất

Những vòng hợp âm đơn giản có sử dụng thêm quãng 7 (trưởng và thứ)
Hình số 4 và số 6 có sử dụng thêm quãng 7 trong một vài hợp âm. Nói chung, bạn có thể thêm một quãng 7 vào bất kỳ hợp âm nào. Trong một số trường hợp chúng sẽ có tác dụng tốt, còn nếu không thì chúng có thể khá là kỳ lạ. Điều đó hãy để cho đôi tai của bạn dẫn dắt.

Kết thúc với những hợp âm khác ( khác hợp âm I)
Rất nhiều những chuỗi hợp âm kết thúc bằng một hợp âm khác với hợp âm bậc I ( bắt đầu từ ví dụ số 7) , và điều đó có nghĩa là vòng hợp âm có thể được lặp lại ngay.

Hợp âm 7 giảm
Bắt đầu từ ví dụ 15, hợp âm 7 giảm được sử dụng. Về mặt cấu tạo, hợp âm 7 giảm bao gồm 4 nốt cách đều nhau 1 quãng 3 thứ. Vòng tròn nhỏ đằng sau tên hợp âm là ký hiệu của “giảm”.Hợp âm giảm thường có hiệu quả khi với những nốt được thăng lên nửa cung trong sự chuyển tiếp từ hợp âm này sang hợp âm khác.

Vòng hợp âm đơn giản được kéo dài
Bắt đầu từ ví dụ 21, vòng hợp âm được kéo dài hơn 1 chút, kết hợp với một số hợp âm nhất định từ những vòng hợp âm ngắn hơn

Hợp âm đảo (Inverted Chords)
Thông thường, bassist chơi nốt nhạc đại diện cho tên của hợp âm. Ví dụ, nếu hợp âm là ‘C’ một bassist sẽ chơi nốt C. Một hợp âm đảo sẽ có nốt bass được lấy từ một nốt nào đó khác nằm trong hợp âm. Nó được ký hiệu bằng cách viết tên hợp âm trước, sau đó gạch chéo và viết tên của nốt bass. Ví dụ, C/E có nghĩa là hợp âm C trưởng nhưng nốt bass được chơi là E.

Có 2 lý do chính để bạn cân nhắc đến việc sử dụng một hợp âm đảo. Điều đầu tiên là chúng sẽ tạo ra sự đa dạng hơn trong âm thanh, mà sẽ đặc biệt hữu ích nếu như một hợp âm được kéo dài suốt trong 1 thời gian dài. Lý do thứ 2 là nó sẽ làm ôn hòa hơn (làm mượt hơn) những vòng hợp âm có bè bass bất ổn định. Ví dụ 25 – 32 sử dụng nhiều hợp âm đảo.

Những âm thanh xuyên suốt (Pedal tones)
Một pedal note là một nốt nhạc được xuất hiện lien tục, thường là nốt bass, có thể có hoặc có thể không thực sự nằm trong hợp âm nó xuất hiện cùng. Nó có tác dụng trong việc kéo dài vòng hòa âm, làm cho vòng hòa âm thêm liên kết, vững chắc (rooted and solid). Nó tạo ra thêm những ấn tượng tuyệt vời thay vì chỉ là những vòng hợp âm đơn sơ. Tuy nhiên, nên thử từng vòng hợp âm một cách cẩn thận. Kết quả thu được, ở một mức độ nào đó sẽ không thể dự đoán được. Ví dụ 33 – 35 minh họa cho pedal tones.

Secondary Dominant Chord
Trong cuốn sách này, một cách chủ ý, một hợp âm Secondary Dominant Chord sẽ có một lúc nào đó trở thành một hợp âm trưởng thay vì hợp âm thứ nhự chúng ta vẫn nghĩ. Trong C major, nếu chúng ta xây dựng bộ hợp âm với từng nốt của C major scale, một cách tự nhiên chúng ta sẽ có được một số hợp âm trưởng, một số hợp âm thứ, và một hợp âm giảm: C major, D minor, E minor, F major, G major, A minor, và B diminished.

Để tạo ra một secondary dominant chord, thông thường bạn có thể lấy một hợp âm thứ, biến nó thành hợp âm trưởng bằng cách tăng quãng 3 của hợp âm, và sau đó sử dụng liền sau hợp âm đó một hợp âm cao hơn nó một quãng 4 (hay chính là thấp hơn 1 quãng 5). Secondary dominant chord tạo ra màu sắc thú vị cho vòng hợp âm của bạn. Ví dụ 36 – 42 miêu tả những hợp âm đó.

Hợp âm mượn (modal mixtures)
Một modal mixture (cũng được gọi là một hợp âm mượn) là một hợp âm không được xuất hiện một cách tự nhiên. Ví dụ, trong C major, hợp âm F major xuất hiện một cách tự nhiên nếu như chúng ta xây dựng một hợp âm trên nốt bậc 4. Thay vào đó, nếu ta tạo ra ở đó một hợp âm thứ (Fm) tức là chúng ta đang mượn hợp âm đó từ C minor.

Có rất nhiều hợp âm mượn có thể sử dụng, nhưng những hợp được sử dụng nhiều hơn cả là hợp âm thứ bậc 4 được sử dụng trong major key.

Ví dụ 43 – 47 có chứa modal mixtures

Phần 2: Chuỗi hợp âm thứ

Miêu tả khái quát: Khi chúng ta nói rằng một bài hát nằm ở minor key, có nghĩa rằng chúng ta muốn nói những hợp âm trong đó quay tròng quanh một hợp âm thứ nhất định nào đó mang vai trò như một hợp âm chủ. Thuật ngữ tonic ám chỉ tới hợp âm bậc I. Một cách đơn giản, một bài hát sử dụng C minor như một hợp âm chủ sẽ nằm trong âm giai C minor.

Trong hòa âm truyền thống, có những quy tắc riêng biệt để xác định một bài hát thực sự là minor, không chỉ đơn giản là dựa trên việc bài hát sử dụng nhiều hợp âm thứ. Ví dụ, những hợp âm D minor, E minor, A minor đều xuất hiện trong âm giai C major. Do vậy ta có thể sử dụng 3 hợp âm đó trong một vòng hợp âm, với một bài hát vẫn còn nằm trong C major. Yếu tố khiến cho bản nhạc trở thành minor là sự tồn tại của một leading tone được thăng lên trong hợp âm át. Ví dụ, trong C minor, hợp âm chủ gồm có những nốt C – Eb – G. Hợp âm át (hợp âm bậc V) sẽ gồm G – B – D.

Tuy nhiên, trong cuốn sách này, một vòng hợp âm ở minor key sẽ được bắt đầu và kết thúc ở minor. Điều này theo quy tắc hòa âm truyền thống, không cần thiết phải luôn luôn chính xác, nhưng đây là điều phổ biến trong phổ biến trong các thể loại nhạc quần chúng.

Về chữ số Roman
Sử dụng chữ số Roman để thể hiện hợp âm là điều truyền thống. Nói chung, các musicians sử dụng chữ số in hoa cho hợp âm trưởng và hợp âm tăng, và chữ số in thường cho hợp âm thứ và hợp âm giảm.

Các chuỗi hợp âm ở phần 2 sử dụng chữ số Roman theo quy tắc này, vì nó sẽ giúp bạn có thể chuyển dịch chúng sang nhiều giọng khác nhau. Những vòng hợp âm trong phần này sẽ được đặt ở C minor, vòng đầu tiên như sau:
Cm Fm G Cm
Phía dưới những hợp âm này, bạn sẽ thấy chữ số Roman:
i iv V i

Trong C minor, hợp âm dựa trên nốt đầu tiên của scale (vd hợp âm C minor) được thể hiện bởi chử số ‘i’. Hợp âm dựa trên nốt bậc 4 (hợp âm F minor) được ký hiệu ‘iv’, và hợp âm dựa trên nốt bậc 5 (hợp âm G major) được ký hiệu bằng ‘V’. Ký hiệu ‘i’ và ‘iv’ đều là chữ cái in thường bởi vì chúng đều là hợp âm thứ.

Dịch chuyển chúng tới F minor key, sử dụng i-chord từ F minor (hợp âm F minor), iv-chord (Bb minor), và V-chord (C major).



Dưới đây là một vài thông tin khác mà bạn sẽ cần đến
1. Một chữ số Roman với một ký hiệu ‘6’ đằng mang ý nghĩa là nốt bậc III của hợp âm được dùng làm nốt bass. Ví dụ, với C minor key, iv6 có nghĩa là hợp âm sử dụng những nốt F Ab C, và nốt Ab là nốt bass.

2. Một vòng tròn nhỏ đằng sau chữ số Roman có ý nghĩa là “giảm”. Vì vậy hợp âm iio có nghĩa là hợp âm giảm được xây dựng dựa trên nốt thứ 2 của scale.

3. Trong những vòng hợp âm được đưa ra, một số hơp âm có sử dụng dấu hoa thị . Điều này có nghĩa là bạn có thể thay thế hợp âm trưởng được đưa ra bằng hợp âm thứ của cùng nốt đó, vân vân. Vì vậy với một hợp âm được liệt kê là V* bạn có thể muốn thử thay thế bằng G B D (major) hoặc G Bb D (minor).

Thử với những chuỗi hợp âm dưới đây. Một số đơn giản là sự chuyển đổi sang minor key từ major key progression từ phần một, trong khi những chuổi còn lại sẽ thường gặp hơn chỉ ở minor keys.











Phần 3: Chuỗi hợp âm chuyển giọng

Chuyển giọng (modulating) là một cách để tạo ra sự kích thích và sư dạng trong âm nhạc. Thủ pháp này nên được sử dụng một cách hạn chế vì chuyển giọng rất thường bị đi vào lối mòn và nhàm. Nhưng nếu sử dụng cẩn thận, nó sẽ rất hiệu quả. Nếu bài hát là dành cho song ca, chuyển sang một giọng mới có thể hỗ trợ 2 ca sĩ có âm vực khác nhau.

Những ví dụ sau đây là một vài cách mà bạn có thể chuyển từ giọng này sang giọng khác. Bạn có thể cảm thấy cần thiết phải chỉnh sửa chúng để phù hợp với bài hát của bạn, và hãy cứ thoải mái làm điều đó. Những ví dụ sau chỉ nhằm mục địch minh họa cách mà một key có thể liên hệ tới key khác.
Phần lớn tất cả các ví dụ đều đưa ra sự chuyển giọng lên cao, bởi vì đó là loại thông dụng nhất, nhưng có nhiều ví dụ khác cho thấy cả chiều hướng lên và xuống trong chuyển giọng.

Trong các ký hiệu Roman ở phần này, chữ số đằng sau dấu gach chéo thể hiện nốt mà bạn nên chơi ở bè bass nếu như nốt đó khác với tên hợp âm. Ví dụ, một hợp âm được ký hiệu là I/bVII có nghĩa nều hợp âm là C major, thì nốt bass sẽ là Bb (quãng 7 thứ). Đây là sự kết hợp trong cả cách đặt tên hợp âm classical và cách đặt tên hợp âm popular, và tôi tin rằng nó sẽ giúp bạn dịch chuyển chuỗi hợp âm nhanh hơn chỉ ngồi xuống và học lý thuyết chữ cái Roman nếu như bạn chưa hề biết chúng.













Phần 4: Chuỗi hợp âm hỗn hợp.
Khi bạn sử dụng đôi tai như một người dẫn đường, bạn sẽ rất ngạc nhiên với rất nhiều những sự kết hợp trong hợp âm mà bạn có thể theo đuổi. Hy vọng rằng bạn đã phát hiện ra được rằng với những chuỗi hợp âm đã được liệt kê, bạn có thể lấy một phần của chuỗi này và đặt nó vào một phần của chuỗi khác.
Phần này sẽ giới thiệu một vài chuỗi hợp âm hỗn hợp. Tất cả đều được đặt ở C major key, nhưng với phần minor key, chữ số Roman cũng được đưa ra để trợ giúp trong sự dịch chuyển.








Trên không phải là tất cả các chuỗi hợp âm, bởi vì nếu vậy, âm nhạc sẽ thực sự rất bị hạn chế. Và nếu như bạn chưa nhìn thấy một chuỗi hợp âm nào đó không được liệt kê ở đây thì không có nghĩa rằng chuỗi hợp âm đó là không tốt. Quyển sách này đơn giản muốn mở rộng đôi tai của bạn, và làm cho bạn tích cực suy nghĩ hơn.

Tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa điều mà tôi đã nhắc tới vài lần từ trước, đó là: sự giản dị thường tốt hơn sự phức tạp. Những bài hát hay nhất thế giới sử dụng những chuổi hợp âm rất đơn giản. Một chuỗi hợp âm phức tạp có thể thú vị và kích thích, nhưng phải cẩn thận khi bạn pha chế và sắp xếp chúng. Chúng có thể sẽ có tác dụng xấu và sẽ làm cho bản nhạc của bạn xa rời khán giả.

Và trên hết, với tất cả sự kính trọng tới công việc sáng tác nhạc, hãy để cho đôi tai của bạn dẫn đường.

Chúc vui,





Bài này dịch từ quyển Essential Chord Progression của Gary Ewer, trình bày ngắn gọn một số thủ pháp sử dụng hợp âm phổ biến trong sáng tác. Kiến thức mình ít ỏi nên chỉ biết đi dịch bài qua ngày, không nghĩ ra được cái gì hay ho đáng viết để đóng góp cho forum (như anh hardkore chẳng hạn) , anh em thông cảm đọc tạm. Hy vọng với bài này anh em sẽ nâng cao thêm trình độ sáng tác và đóng góp thêm nhiều tác phẩm forum ca...

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét