Thứ Tư, ngày 15 tháng 4 năm 2009

Xử lý âm thanh trên vi tính (bài 1)

Xử lý âm thanh trên vi tính (bài 1)
Biên Soạn: NS Đắc Tâm


Kỹ thuật điện tử đã chắp cánh cho âm nhạc bay rất cao và rất xa. Chúng ta bây giờ có thể nghe được những âm thanh tổng hợp (synthesized sounds) mà cách đây 50 năm không tồn tại. Một bài hát với ca sĩ và dàn nhạc đệm có thể được phát thanh toàn cầu trong vòng vài giờ ngay sau khi được sáng tác, điều mà trước đây là có lẽ chỉ là chuyện trong mơ của các nhạc sĩ!


Máy vi tính giúp cho con người viết nhạc, phối hòa âm và thu âm rất dễ dàng ngay tại nhà với chi phí rất rẻ so với một phòng thu âm truyền thống và Internet giúp phổ biến tác phẩm trên toàn cầu một cách nhanh nhất và tiết kiệm nhất.

Với một máy vi tính có soundcard là người sử dụng có thể làm nhạc và thu nhạc được rồi. Về cách thức thực hiện, xin mời bạn đọc tham khảo 2 bài viết về phần mềm làm nhạc và căn bản về MIDI đã đăng trên Giai Điệu Xanh.

Loạt bài "Xử Lý Âm Thanh Trên Vi Tính" tiếp theo đây chỉ là hướng dẫn căn bản về cách thức mix và master một bài nhạc bằng phần mềm và các FX plugins còn chất lượng bài nhạc hoàn chỉnh tùy thuộc vào nhiều yếu tố: chất lượng ca khúc, chất lượng bài phối, chất lượng thu âm và sau cùng là quan điểm, kinh nghiệm và lổ tai người mix.

Trong âm nhạc, tuy không có nguyên tắc hoặc công thức chuẩn nhưng cũng có một định hướng cho các sản phẩm âm nhạc được thương mại hóa: sản phẩm "hay" là sản phẩm được nhiều người chấp nhận chi tiền để nghe.

A. Sơ Lược Về Âm Thanh (Acoustics)

Chung quanh ta luôn có vô vàn âm thanh. Vật phát âm thanh khi rung động tạo ra áp suất trong không khí tạo thành sóng phát tán khắp nơi (wave). Màn nhỉ người nghe tiếp nhận các sóng này và chuyển tín hiệu tần số rung vào bộ não để trở thành cảm nhận âm thanh cho người nghe.

Để ghi lại sóng âm thanh, phải có vật trung gian tiếp nhận sóng từ nguồn phát (micro, bô–bin đàn guitar điện) và chuyển cho thiết bị ghi chép lại (đầu thu băng từ, băng digital, đĩa cứng...).

Khi chưa có kỹ thuật DIGITAL (kỹ thuật số), việc thu và ghi âm được thực hiện theo kỹ thuật ANALOG (kỹ thuật tương tự) và do đó việc sao chép nối tiếp (từ bản 1 sang bản 2, từ bản 2 sang bản 3...) sẽ làm giảm chất lượng âm thanh dần dần.

Kỹ thuật DIGITAL cho phép sao chép nối tiếp mà không làm giảm chất lượng âm thanh vì sóng âm thanh đã được chuyển thành tín hiệu số nhị phân (binary).

Khi tiếp cận âm thanh với kỹ thuật DIGITAL, các bạn phải làm quen với:

– Định dạng sóng audio: WAVE dùng trên Windows và AIFF trên Mac. Các phần mềm làm nhạc hiện nay đều được thiết kế để xử lý 2 dạng wave này.

– Mức lấy mẫu (sampling rate) gồm có: chuẩn audio CD là 44.1 KHz, trên nữa ta có: 48 KHz, 88.2 KHz, 96 KHz, 192 KHz. Các tần số này có nghĩa là tần số âm thanh dùng để lấy mẫu âm thanh thực tế.

Theo lý thuyết Nyqist, để có thể tái hiện được âm thanh trong một dãi tần (bandwidth) thì mức lấy mẫu âm thanh phải gấp đôi dãi tần này. Do đó, audio CD có chuẩn sampling rate là 44.1 KHz để có thể tái hiện âm thanh trong dãi tần từ 20 Hz ~20 KHz mà tai con người nghe được.

– Độ phân giải (resolution): chuẩn audio CD là 16 bit, trên nữa ta có 24 bit, 32 bit, 48 bit. Giải thích một cách đơn giản cho dễ hiểu về độ phân giải trong âm thanh digital:

Sóng âm thanh analog có dạng hình sin liền lạc khi được mã hóa thành số nhị phân thì sống này sẽ được cắt thành từng khúc liền kề nhau. Số bit thể hiện mật độ của các khúc này, điều này có nghĩa là với số bit càng cao, sóng âm thanh analog sẽ được tái hiện càng liền lạc hơn:

2bit (tức 21) = 2 ; 8bit (28) = 256 ; 16bit (216) = 65,536 ; 24bit (224) = 16,777,216

I. Các Công Cụ Căn Bản Để Xử Lý Âm Thanh

Trước hết các bạn nên hiểu:

– Âm nhạc chỉ được nghe trong không gian phía trước mặt người nghe – 2 chiều (stereo–chiều rộng và chiều sâu). Còn âm thanh surround (5.1, 6.1, 7.1) được lồng trong phim, video tạo hiệu quả bao trùm người xem.

– Mix: pha trộn các âm thanh trong không gian stereo giới hạn bởi 2 loa trái và phải.

– Master: cân chỉnh stereo audio track (đã mix rồi) cho "sạch sẽ" và điều chỉnh âm thanh các stereo audio tracks (đã mix rồi) trong một CD cho cân nhau.

Các phần mềm làm nhạc đều có các công cụ xử lý âm thanh căn bản sau:

– Volume (còn được gọi là Fader) để chỉnh âm lượng to, nhỏ.

– Equalizer (còn được gọi tắt là EQ) để tăng giảm các tần số âm thanh trầm bổng (bass, treble).

– Pan (còn được gọi là Panpot: panorama position) để bố trí âm thanh giữa 2 loa trái và phải.

– Compressor để nén và gom âm thanh lại – ổn định dao động của âm thanh.

– Delay để tạo hiệu quả chiều rộng cho âm thanh.

– Reverb để tạo hiệu quả chiều sâu cho âm thanh.

Ngoài ra còn có các FX plugins khác giúp điều chỉnh hoặc tạo thêm hiệu quả âm sắc cho âm thanh như: vocoder, phaser, flanger, chorus, distortion, overdrive...

II. Volume

Volume điều chỉnh âm thanh to nhỏ. Âm thanh to tạo cho người nghe cảm nhận âm thanh gần mình và ngược lại. Vậy nếu muốn âm thanh lộ ra phía trước thì nâng volume lên; muốn âm thanh lùi sâu vào phía sau thì giảm volume xuống. Đơn giản quá!

III. Equalizer

Tại sao gọi là âm thanh có tần số cao là bổng và âm thanh có tần số thấp là trầm? Vì khi nghe qua loa, ta nhận thấy âm thanh có tần số cao hình như ở phía cao trên loa và âm thanh trầm ở phía thấp dưới loa. Điều này cũng đúng trong thanh nhạc, các nốt từ thấp đến cao sẽ được hát từ bụng lên đến đỉnh đầu.

Vậy thì equalizer có chức năng làm cho âm thanh bay lên cao hoặc hạ xuống thấp ở chừng mực vì các bạn không bao giờ làm cho tiếng trầm của đàn bass bay lên cao lơ lững được, cũng như không thể nào kéo tiếng sáo vi vu xuống dưới đất được!

Sau đây là sơ đồ tần số của các nhạc cụ và giọng người so với bàn phím piano:


Việc cân chỉnh âm thanh bằng equalizer (theo tần số) đôi khi cần thiết trong khi mix – để nâng hiệu quả âm thanh của các track waves và rất quan trọng khi làm master – để nâng hiệu quả âm thanh của bản master stereo trước khi xuất ra thành phẩm để đến tai người nghe.

Tuy nhiên, hãy biết tiết chế việc sử dụng EQ vì nếu âm thanh nhạc cụ đã tốt rồi thì chỉ nên chỉnh EQ khi có lý do như: để phân biệt 2 audio tracks có cùng nhạc cụ và cùng âm sắc, các bạn nên chỉnh EQ của 2 audio tracks này cho khác nhau một chút.

Sau đây là gợi ý của Ô.Robert Dennis, Recording Institute of Detroit (Viện Thu Âm Detroit), Mỹ trên trang web www.recordingeq.com/Subscribe/tip/tascam.htm trong việc sử dụng EQ:


Các thông số của EQ gồm có:
Frequency Gain: để tăng hoặc giảm âm lượng của tần số.
Frequencies: các tần số
Q (Bandwidth): bề rộng của tần số
Output Gain (Trim): âm lượng tổng hợp của EQ
Khi sử dụng FX plugin (công cụ hiệu quả bổ trợ), các bạn sẽ thấy có thêm 2 thông số:
Dry: âm lượng gốc của audio track
Wet: âm lượng của FX
Các bạn có thể pha trộn giữa Dry và Wet để tạo ra hiệu quả nhiều hoặc ít cho audio track nếu FX plugin này được sử dụng riêng cho audio track. Còn nếu bạn dùng FX plugin chung cho các audio tracks (qua cổng FX channel, Aux, hoặc Bus) thì các bạn cài Dry = 0 và chỉ chỉnh âm lượng Wet cho phù hợp.

1. Graphic Equalizer (EQ theo đồ thị)


Hình trên là một loại EQ theo đồ thị đơn giản (Graphic EQ của Sony) gồm có 10 cần chỉnh của các tần số đã được ấn định sẳn. Với loại EQ này, việc nâng cao hoặc hạ thấp một tần số cũng sẽ có ảnh hưởng đối với những dãy tần số gần kề (khoảng tần số rộng).

2. Parametric equalizer (EQ theo thông số)
Khi EQ có thêm thông số Q thì sẽ được gọi là Parametric EQ. Thông số Q – Quality (còn được gọi là Chiều Rộng Dãi Tần – Bandwidth) cho phép người sử dụng chỉnh được âm lượng tần số rất chính xác ở dãi tần từ rộng cho đến hẹp.


Giải thích các thông số trong 10–band Parametric EQ của Cakewalk trong hình trên:
– Voice: chọn tần số. Có 8 tần số mà người sử dụng có thể tự ấn định từng tần số một. Ô bên phải của Voice là âm lượng của tần số được chọn (Band) và được tăng giảm bằng cần "gain" ở phần dưới bên phải tương ứng.
– Center Frequency (Hz): Ở giữa tần số. Chọn Band ở Voice bằng cách click vào nút vuông có ghi số từ 1 đến 8 của phần "set" phía dưới bên phải và bật nút "on" để kích hoạt tần số, tiếp đến click kéo thanh –+ để chọn tần số. Thanh -+ kế bên phải – "fine" dùng để chỉnh tần số chính xác hơn.
– Bandwidth (Q): Bề rộng dãi tần. Kéo thanh -+ để mở rộng hoặc thu hẹp dãi tần của tần số. Thanh -+ "fine" để chỉnh dãi tần cho chính xác.
– Monitor: kiểm soát âm lượng EQ ở kênh phải và trái. Click kéo thanh -+ để kiểm soát âm lượng tối đa từ 0 dB đến 30 dB của các cần "gain".
– Shelf: dùng để chỉnh tần số thấp (lo) và tần số cao (hi). Cách chỉnh giống như chỉnh Voice (band).

3. Paragraphic equalizer (EQ theo thông số và đồ thị):
bao gồm cả graphic EQ lẫn parametric EQ. Loại EQ này có thể được gọi là EQ đa năng.

Sau đây là các dạng Paragraphic EQ plugins:


Waves Paragraphic EQ
Sonitus Paragraphic EQ
Equalizer còn được sử dụng với hiệu quả tăng giảm âm lượng của audio track ngoài Volume. Nhiều khi các bạn chỉ cần chỉnh tăng giảm equalizer cũng làm âm lượng audio track lớn thêm hoặc nhỏ lại mà không cần phải sử dụng Volume.

IV. Pan
Sử dụng PAN để sắp xếp vị trí cho các nhạc cụ và giọng hát y như khán giả nhìn thấy diễn viên và nhạc công trên sân khấu và để tạo hiệu quả chiều rộng (width) – các loại nhạc cụ được phân bố từ loa trái qua loa phải và hiệu quả chiều sâu (depth).
Thông thường, trống, bass và giọng hát chánh được bố trí ở giữa 2 loa còn các nhạc cụ khác thì tùy tai nghe của người mix. Riêng đối với nhạc acoustic jazz thì trống và bass được bố trí chệch nhau và không ở giữa – trống sẽ nằm chệch về phía trái và bass chệch về phía phải (có lẽ từ thực tế trên sân khấu người chơi contrabass đứng chệch phía bên phải sân khấu còn người đánh trống thì chệch bên trái?).

Có 2 quan điểm PAN âm thanh:

1. Pan âm thanh cân nhau phải trái.

2. Pan âm thanh không cân nhau.

Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của các chuyên viên mix thì:
– Các nhạc cụ cùng bản chất âm thanh (âm sắc) như piano và guitar, saxophone và trumpet không nên bố trí cạnh nhau vì nhạc cụ có âm lượng lớn hơn sẽ “che” mất nhạc cụ có âm lượng nhỏ hơn (được gọi là “masking”).

– Lưu ý hiệu quả triệt tiêu nhau: khi 2 audio tracks được bố trí đối xứng nhau có cùng bước sóng âm thanh như nhau và chẳng may trùng nhau sẽ triệt tiêu nhau. Để sửa lỗi này, các bạn chỉ cần làm lệch thời gian của audio track này so với audio track kia – tức là chỉnh cho audio track này trể hơn hoặc sớm hơn vài mili–giây so với audio track kia.

Hiệu quả triệt tiêu này cũng thường xảy ra khi các bạn làm nhạc MIDI và quantize (điều chỉnh tín hiệu nốt vào đúng phách nhịp). Ngay đúng phách, có thể có nhiều âm cùng vang lên một lúc (thường gặp đối với trống kick và bass) và do đó sẽ triệt tiêu âm lượng lẫn nhau nếu có cùng bước sóng. Để hóa giải trường hợp này, chỉ cần làm lệch thời gian các tracks với nhau vài mili-giây như nêu trên.


V. Compressor
Trong một bản mix, các âm thanh gốc (chưa được xử lý) được tập trung lại và là một mớ "hổn độn" dao động, không ổn định. Compressor được sử dụng để nén và ổn định dao động của âm thanh.
Do đó những âm thanh cần được làm rõ cho người nghe sẽ được xử lý qua compressor, thường là: trống kick, tiếng bass, tiếng nhạc cụ solo và giọng hát.
1. Compressor (classic) – Công cụ nén âm thanh dạng cổ điển



Sonitus fx Compressor

Compressor classic (xem hình Sonitus FX Compressor trên) có các thông số sau:
1. Threshold: ngưởng nén, được tính bằng âm lượng dB (decibel). Từ ngưởng âm lượng này trở lên (to hơn), âm thanh sẽ bị nén. Trong hình trên, điểm A khoanh đỏ là ngưởng nén ờ –18 dB.
2. Ratio: Tỷ số nén gồm tử số (điều chỉnh theo người sử dụng) và mẫu số bất biến 1. Âm thanh vượt qua ngưởng nén sẽ bị nén theo tỷ số này.
Thí dụ: khi ngưởng nén (threshold) được đặt ở –18 dB và tỷ suất nén là 3:1 thì nếu âm thanh vào có âm lượng là –12 dB (to hơn ngưởng nén là 6 dB) sẽ bị nén và âm thanh ra sẽ chỉ là –16 dB (to hơn ngưởng nén 2 dB). Như vậy thì âm lượng to hơn ngưởng nén 6 dB đã bị giảm theo hệ số 3 để chỉ còn to hơn ngưởng nén là 2 dB.
3. Knee: đầu gối (vì có dạng cong như đầu gối) chỉnh cho độ nén ở ngưởng nén bị nén ngay tức thì – nén cứng (hard) hoặc bị nén từ từ – nén dịu (soft).
4. Attack: thời gian bắt đầu nén, tính bằng mili–giây (ms). Thí dụ: khi âm thanh to đến ngưởng nén thì sẽ bị nén ngay tức thì (attack = 0 ms) hoặc bị nén trễ hơn 10 mili–giây (attack = 10 ms). Việc chọn nén ngay tức thì thường gây hiệu quả âm lượng bị giảm đột ngột, do đó nên chọn chế độ attack khác 0 ms.
5. Release: nhả nén, tính bằng mili–giây (ms). Đây là khoảng thời gian mà âm lượng bị nén và được chỉnh tùy theo độ ngân dài ngắn của âm thanh bị nén. Sau thời gian này, âm thanh sẽ không bị nén nữa.
6. Gain: tăng âm lượng của compressor.
Việc sử dụng compressor tạo các hiệu quả sau:
– Giúp tăng âm lượng tổng thể của bản mix mà không làm "bể" âm thanh và tạo hiệu quả "trọng lượng" cho âm thanh.
– Giúp cân bằng âm lượng đầu ra khi âm thanh đầu vào to nhỏ không ổn định (giọng hát to nhỏ không đều khi thu qua micro).
– Giúp tạo thêm thời ngân dài của âm thanh bằng cách tăng Release Time lâu hơn thời gian ngân gốc của âm thanh.

2. Compressor/Gate


Cakewalk FX Compressor/Gate

Loại compressor này có 2 tính năng: nén âm thanh và ngăn âm thanh.Như plugin Cakewalk FX Compressor/Gate (hình trên), ngoài tính năng nén âm thanh, còn có thêm tính năng ngăn không cho tạp âm nền lọt qua plugin (Gate: cổng) và có thêm các thông số sau:
– Gate Threshold: ngưởng cổng ngăn. Dưới ngưởng này, âm thanh bị chận lại không cho qua plugin. Từ ngưởng này trở lên âm thanh vào được cho qua plugin với âm lượng gốc. Trong hình trên, điểm C khoanh xanh là điểm ngăn âm thanh: âm thanh vào có âm lượng dB dưới điểm này sẽ bị ngăn không cho vào plugin. Âm lượng của âm thanh vào trên điểm này sẽ được plugin "mở cổng" cho vào với âm lượng được khống chế bởi tỷ số mở rộng (expander ratio) cho tới ngưởng cổng ngăn. Điểm B khoanh đỏ là ngưởng cổng ngăn.
– Expander Ratio: tỷ số mở rộng. Tính năng tỷ số này ngược lại với tính năng tỷ số nén (compressor ratio). Âm thanh vào sẽ được làm tăng âm lượng theo tỷ số này từ điểm ngăn âm thanh C đến ngưởng cổng ngăn (gate threshold). Từ ngưởng cổng ngăn trở lên, âm lượng ra bằng âm lượng vào. Đến ngưởng nén, âm lượng ra sẽ bị nén lại.
Chỉ sử dụng Gate khi nhận thấy âm thanh gốc bị nhiểu, có tạp âm nền (tiếng "rù", tiếng "xì" do ảnh hưởng nguồn điện hoặc dây audio không có chất lượng tốt). Và khi dùng Gate, phải lưu ý là không nên để âm thanh ra bị mất phần tinh tế ở phần đầu so với âm thanh gốc vào.
Nuendo 3 thì có VST Dynamics với tính năng compressor/gate:


3. Multidynamics (Đa sắc thái)


MultiDynamics của WaveArts 5

Loại compressor này thì tiên tiến hơn và chính xác hơn, cho phép nén âm thanh theo từng dãi tần (bandwidth).
Nuendo 3 thì có Multiband compressor:


Với hiệu quả stereo, kỹ thuật ghi âm tạo cảm nhận 3 chiều cho người nghe: chiều rộng, chiều cao và chiều sâu. EQ tạo hiệu quả cao thấp (treble, bass – high, low), Delay giúp tạo hiệu quả chiều rộng và Volume + Reverb tạo hiệu quả chiều sâu.
VI. Delay (sự chậm trễ)
Khi một âm thanh phát ra và có tiếng vọng lại (echo) thì khoảng thời gian từ khi âm thanh gốc được phát ra cho đến khi có tiếng lặp lại đầu tiên được gọi là thời gian trể (delay time).

– Khi âm thanh phát ra bên phải và có tiếng vọng lại bên trái với thời gian trể ngắn và với âm lượng nhỏ hơn âm lượng âm thanh gốc sẽ tạo ra bề rộng cho âm thanh này.

– Khi âm thanh phát ra và khi có tiếng vọng lại ở cùng vị trí với âm thanh gốc với thời gian trể thật ngắn (<30 align="center">

Cakewalk Delay/Echo (Mono)


Cakewalk Delay Stereo
Các thông số của Delay:
– Delay time: thời gian trể, tính bằng mili–giây (1.000 mili–giây = 1 giây). Thời gian trể này càng lớn thì tiếng vọng lại càng chậm.
– Feedback: dội lại, tính bằng %. Tỷ lệ này càng lớn thì âm thanh vọng lại càng nhiều. Đối với delay stereo, feedback được phân thành bên trái (left) và bên phải (right).
– Cross feedback: dội lại đan nhau (chỉ có đối với delay stereo), tính bằng %. Tỷ lệ này càng lớn thì tiếng vọng bên phải và bên trái lẫn vào nhau càng nhiều.
– Modulation rate/LFO (low frequency oscillation) rate: tần số dao động.
– Modulation depth/LFO depth: độ sâu dao động, tính bằng mili–giây, tạo hiệu quả rung (vibrato).
– Triangular: sóng dạng tam giác.
– Sinusoidal: sóng dạng sin.
Các dạng Stereo Delay plugins khác:


Cakewalk FxDelay

Cakewalk FxDelay là delay stereo với 4 âm thanh delay (Voice 1~Voice 4) có thể điều chỉnh riệng biệt nhau thời gian trể, âm lượng, feedback và Pan.



Hai loại delay trong Nuendo 3 (mono và stereo)


Timeworks Delay 6022
Trong Timeworks Delay 6022: Delay Time = Time còn Feedback = Spin; Link = gang. Delay plugin này còn cho phép pha âm lượng delay bên trái và bên phải riêng biệt nhau và chỉnh EQ bên phải và bên trái riệng biệt nhau bằng nút Tone.


Liquid Delays II

Liquid Delays II của Nomad Factory là một delay plugin rất chi tiết (nếu không muốn nói là phức tạp!). Ngoài các thông số mà bất kỳ Delay plugin nào cũng phải có, Liquid Delays II còn cho người sử dụng thêm nhiều thông số như:
– Filters: Low Cut và High Cut tức là EQ giống như Tone trong Timeworks Delay 6022 nhưng lại có thêm Overdrive.
– Filter Modulation:
tức là LFO với nhiều dạng sóng khác nhau (thay vì 2 như trong các plugin delay khác): sin, tam giác, vuông, răng cưa trái và phải.
– Master: gồm có Peak Limiter (giới hạn âm lượng đỉnh) và stereo width (bề rộng của delay).
– Mode: chọn lựa thứ tự trước sau của 3 hiệu quả: Drive (Filters), Filters (Filters Modulation) và Delays

VII. Reverb (tiếng vang)
Âm thanh được ghi âm đòi hỏi việc xử lý tinh tế các thiết bị hiệu quả (FX processors) và FX plugins. Trong lãnh vực digital, các hiệu quả này – còn được gọi chung là DSP (Digital Signal Processors) – sẽ được điều chỉnh sao cho âm thanh này được thể hiện sống động trong không gian mô phỏng và được tái hiện qua loa của bất kỳ máy hát nào – earphones, headphones, loa máy hát xách tay, loa máy hát trong xe hơi, loa dàn máy hát gia đình, loa dàn máy hát trong quán café...

Ngoài hiệu quả bề rộng, âm thanh được ghi âm còn phải được xử lý hiệu quả chiều sâu để mô phỏng môi trường thực tế của âm thanh này, thí dụ như: trong đường hầm, trong nhà thờ, ngoài quảng trường, trong phòng học, v.v... Hiệu quả chiều sâu này được tạo từ Volume và Reverb: Volume tạo hiệu quả gần xa còn Reverb tạo hiệu quả môi trường không gian.


Cakewalk Reverb

Plugin Reverb của Cakewalk theo hình trên là một FX plugin đơn giản, dễ sử dụng. Các thông số của nó gồm có:
– Dry Mix: tỷ lệ âm lượng của âm thanh gốc được pha chung với reverb.
– Wet Mix: tỷ lệ âm lượng reverb được pha chung với âm thanh gốc.
– Link: nối Dry Mix và Wet Mix lại với nhau. Chỉnh một thông số này sẽ đồng thời chỉnh thông số kia tương ứng cùng chiều hoặc ngược chiều.
– Decay(s): thời gian vang. Theo đúng nghĩa từ, decay có nghĩa là rữa nát, tan dần. Thông số này điều chỉnh thời gian từ lúc âm thanh bắt đầu vang cho đến khi tiếng vang mất hẳn và được tính bằng mili–giây (ms). Thời gian vang này càng dài tạo hiệu quả không gian càng rộng.
– Sparse Echo: tiếng dội thưa. Các bạn cũng cần phải hiểu là khi echo (delay) rất nhiều và liên tục nhau sẽ trở thành reverb, chính vì vậy mà plugin reverb "ngốn" CPU nhiều nhất so với các plugins khác. Tiếng dội thưa tạo cảm giác không gian có ít tường và rộng, căn phòng trống chẳng hạn.
– Dense Echo: tiếng dội dày (nhiều), tạo cảm giác không gian nhiều ngõ ngách và hẹp, tiếng vang dày.
– No Echo: không có tiếng dội. Chọn nút này cũng giống như chọn nút Bypass, âm thanh gốc sẽ không được xử lý qua plugin, tức là không có tiếng vang.
– LP Filter: bộ lọc tần số thấp (Low Pass), tính bằng kHz, dùng để giảm mức độ vang ở tần số thấp, làm cho tiếng vang bớt rền hơn.
– HP Filter: bộ lọc tần số cao (High Pass), tính bằng kHz, dùng để giảm mức độ vang ở tần số cao, làm cho tiếng vang êm hơn.
– Active: hoạt động.
Nuendo 3 có 3 reverbs:
1. Reverb B: tiêu hao ít CPU và đơn giản.


Reverb B của Nuendo 3
– Room Size: kích cở phòng. Tỷ lệ càng lớn, phòng càng rộng.
– Reverb Time: thời gian vang, tức là Decay.
– Pre–Delay: đây là thông số cần thiết trong plugin reverb, tính bằng mili–giây (ms). Pre–Delay có nghĩa là thời gian trước khi có tiếng dội lại. Nếu Pre–Delay = 0, âm thanh gốc sẽ được xử lý reverb ngay tức thì và có thể sẽ làm nhòa âm thanh gốc trong reverb. Chỉnh một chút Pre–Delay, từ 5 ms đến 25 ms, để cho âm thanh gốc rõ lại trong reverb (vì được phát ra, sau đó mới có reverb). Tăng thời gian Pre–Delay cũng tạo hiệu quả không gian rộng – vì âm thanh phải mất một thời gian di chuyển trong không khí trước khi gặp vật cản và dội lại.
– Damp: đây là hiệu quả LP và HP Filters, làm cho tiếng vang êm hơn.
– Mix: tỷ lệ reverb được pha vào âm thanh gốc.
2. Reverb A: tiêu hao CPU nhiều nhưng tạo hiệu quả reverb hay hơn Reverb B.


Reverb A của Nuendo 3

3. RoomWorks: tạo hiệu quả reverb stereo và surround.



Ngoài các thông số thông thường của reverb, RoomWorks còn cho phép người sử dụng:
– Chỉnh EQ của âm thanh gốc trước khi được xử lý reverb: Input Filters.
– Tạo hiệu quả reverb stereo và surround.
– Chỉnh được mức độ và tính chất âm thanh reverb bằng các thông số trong phần Envelope. Amount: lượng reverb được xử lý. Attack: giống như trong Compressor, reverb được xử lý ngay tức thì (attack=0ms) hoặc trể hơn (attack>0ms). Release: thời gian kéo dài reverb.
ArtsAcoustic có plugin reverb với các thông số cũng rất chi tiết và chất lượng reverb cũng rất hay.


ArtsAcoustic Reverb

Cakewalk còn có Studioverb với tính năng cũng rất chi tiết và hiệu quả reverb cũng rất hay.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét