Thứ Tư, ngày 15 tháng 4 năm 2009

Cấu trúc giai điệu

Giai điệu là sự tiến hành đều đặn và dễ chịu của các âm thanh nối tiếp nhau. Giai điệu là một bài diễn văn phát ra bằng âm nhạc và là thành phần chánh yếu của âm nhạc. Không có giai điệu, hòa điệu (hòa thanh) thuần túy chỉ mô phỏng các âm thanh của thiên nhiên, giòng suối chảy, tiếng gió hú... và không có ý nghĩa.

Giai điệu mang tính chất rất riêng tư, cá nhân trong âm nhạc. Người soạn nhạc thường biểu lộ những suy tư thầm kín, tế nhị của mình qua giai điệu. Giai điệu thường hình thành đột phát từ trong tư tưởng của người soạn nhạc mà không phải suy nghĩ nhiều. Có lẽ chính vì vậy mà người ta quan niệm rằng sáng tác nhạc là một nghệ thuật không thể học được mà phải là khả năng trời cho.

Điều này có lẽ đúng đối với vài lãnh vực sáng tạo mà tài năng không thể nào giải thích một cách thông thường được. Tuy nhiên thật là sai lầm nghiêm trọng nếu nói rằng giai điệu không có tính chất kỹ thuật. Qua các bản thảo của Beethoven, người ta nhận thấy rằng nhiều ý tưởng âm nhạc hay của ông chỉ có một phần xuất phát từ cảm hứng sáng tạo mà thôi. Giữa bản thảo đầu tiên – thường là rất sơ sài và bản thảo cuối cùng là một thời gian dài thử nghiệm và sửa chữa. Đôi khi Beethoven phải chỉnh đi chỉnh lại giai điệu ban đầu đến 15 ~ 20 lần trước khi đạt đến giai điệu chính thức, rất tự nhiên đến nỗi người nghe cứ nghĩ là giai điệu này chắc hẳn phải xuất phát từ cảm xúc tự nhiên của tác giả.

Như vậy, nếu Beethoven và các nhà soạn nhạc nổi tiếng khách đã sử dụng các thủ pháp âm nhạc để “vẽ” ra giai điệu thì tại sao mọi người không thể học được các phương pháp này? Tuy nhiên rất ít người hy vọng đạt được một phần nhỏ tài năng của các thiên tài âm nhạc này nhưng qua nghiên cứu học tập, biết đâu các thủ pháp xây dựng giai điệu có thể giúp một giai điệu từ chỗ không xuất phát từ cảm hứng sáng tạo sẽ trở thành một giai điệu đáng nể và nếu cộng thêm chút may mắn, có thể biến thành một giai điệu đẹp!

1. Tính Thống Nhất Trong Phong Cách (unity of style):

Một giai điệu đẹp có tính thống nhất. Từ khi bắt đầu cho đến lúc kết thúc, giai điệu chỉ phát triển một ý tưởng, một phong cách, một cảm xúc. Nhưng muốn đạt được sự thống nhất này không phải dễ. Thuờng thì ý tưởng giai điệu hình thành một cách ngẫu nhiên với nhiều đoạn, dù có thể nghe được đó nhưng lại không ăn nhập gì với nhau! Viết một giai điệu theo kiểu ráp nối các ý tưởng âm nhạc rời rạc này sẽ khiến giai điệu hoàn toàn khập khiểng, không cân đối hoặc có thể đoạn kết không tương xứng với phần mở đầu.

Người mới bắt đầu viết nhạc “yêu” từng nốt nhạc mà anh ta viết ra và rất sợ hãi với suy nghĩ là phải thay đổi những gì mà ngòi bút “thiêng liêng” của anh ta đã ghi chép ra. Còn người chuyên nghiệp thì khác, anh ta nhìn bản thảo đầu tiên của mình với ánh mắt soi mói, dọ hỏi và thử nghiệm. Anh ta có thể cắt bỏ đi chỗ này một chút, viết lại câu nhạc ở chỗ kia, thay đổi nhiều lần các câu nhạc. Chỉ khi nào anh ta vững tin rằng mỗi nốt là một thành phần không thể tách rời ra khỏi tổng thể của bài nhạc và giai điệu thì đạt đến mức hiệu quả nhất thì anh ta mới xem bài nhạc này là hoàn tất.

2. Điệu Thức (tonality):

Mọi giai điệu – dù ngắn hay dài đều cũng phải được viết theo một điệu thức xác định trưởng hoặc thứ. Việc chuyển giai điệu sang điệu thức khác (chuyển cung gần hoặc xa) chỉ mang tính giai đoạn để rồi sau đó giai điệu phải trở về điệu thức chủ ban đầu.

3. Tình Cảm (expression):

Tình cảm trong giai điệu là ý đồ của người sáng tác muốn thông đạt đến người nghe bằng các nốt nhạc. Người sáng tác phải vận dụng nhận thức, tư duy tình cảm, vốn sống, trình độ văn hóa, kiến thức về âm nhạc của bản thân để chuyển tải tình cảm này qua cách tiến hành các nốt nhạc. Kết hợp được tình cảm với giai điệu một cách hài hòa và “ngọt ngào” thành các tác phẩm âm nhạc khiến mọi người cảm nhận và chấp nhận được là thước đo tài năng của một người sáng tác giai điệu.

4. Điểm Cao Trào (climax):

4.1. Điểm Cao Trào Duy Nhất:

Giai điệu thường hướng về một mục đích. Ngoại trừ những lúc di chuyển theo đường ngang, đường sóng nhấp nhô và đường đi xuống, giai điệu thường hướng đến các điểm cao trào theo sau bằng những lúc ngừng nghỉ. Một người viết nhạc tài năng sẽ dành nốt đỉnh điểm này vào đúng lúc nhất. Một trong những lỗi thường gặp khi viết giai điệu là lạm dụng nốt cao trào, lặp đi lặp lại nốt này một cách không cần thiết và do đó làm giảm đi hiệu quả cao trào của nó.

Có một qui định trong hòa âm phức điệu vẫn còn giá trị cho đến nay: nốt cao nhất trong giai điệu có thể xuất hiện nhưng chỉ nên một lần duy nhất. Một điểm cao trào đơn lẻ chắc hẳn sẽ mang lại hiệu quả đỉnh điểm tốt nhất cho câu nhạc.

(Ngô Thụy Miên: Bản Tình Cuối)

[/color]

Cả bài Bản Tình Cuối, chỉ có một nốt cao trào F ở cuối điệp khúc.


4.2. Điểm Cao Trào Lặp Lại:

Tuy nhiên, như mọi qui định khác, qui định trong hòa âm phức điệu vừa nêu trên lại có nhiều trường hợp ngoại lệ đáng ngạc nhiên! Âm cao nhất có thể được lặp lại vì một trong hai lý do sau đây: (1) để tránh tạo ra cao trào và đạt hiệu quả mơ màng, thư thái hoặc (2) để tạo hiệu quả cao trào mạnh mẽ hơn.

Trong các giai điệu có dạng hình sóng nhấp nhô, việc lặp lại âm cao nhất sẽ tạo ra hiệu quả yên bình (như trong các bài thánh ca hoặc trong các bài hát ru).

(Brahms: Lullaby – Hát Ru)

(Đoàn Chuẩn–Từ Linh: Lá Đỗ Muôn Chiều)

Nốt D là nốt cao nhất trong bài được lặp lại 3 lần trong đoạn này tạo hiệu quả cao trào mạnh mẽ hơn.


Mặt khác, việc lặp lại liên tục nốt đỉnh điểm cũng là cách để nhà soạn nhạc đưa giai điệu về nhà. Việc liên tục gõ nốt cao nhất là một trong những cách mà Beethoven ưa chuộng để đạt cao trào trước khi kết tác phẩm.

(Beethoven: Giao Hưởng Số 5, Op.67)


5. Điểm Dừng (cadence):

Các cao trào trong giai điệu cho dù có hiệu quả cách mấy đi nữa, sẽ trở thành “khó chịu” nếu cứ liên tục nhau xảy ra mà không có những lúc nghỉ ngơi. Những lúc nghỉ ngơi này được gọi là “điểm dừng” (cadences). Những lúc nghỉ ngơi này giúp cân bằng trạng thái động và trạng thái tĩnh của giai điệu.

Có 3 loại điểm dừng: điểm dừng giai điệu (melodic cadence), điểm dừng tiết điệu (rhythmic cadence) và điểm dừng hòa điệu (harmonic cadence). Trong việc viết ca khúc, cần quan tâm đến 2 loại đầu mà thôi. Hơn nữa, điểm nghỉ ở cuối câu giúp làm to rõ hình dáng giai điệu hơn. Nó có thể là một nốt có trường độ dài hoặc là một nốt có trường độ tương đối dài được theo sau bằng dấu lặng.

Việc tạm thời ngừng nghỉ trong chuyển động của giai điệu còn giúp người nghe có thời gian tiếp thu câu nhạc vừa nghe trước khi nghe tiếp câu kế. Điểm dừng làm rõ thêm ra ý tưởng âm nhạc, đóng vai trò giống như các dấu “chấm”, “phẩy” trong văn xuôi và là thành phần cơ bản của hình thức âm nhạc.

Có 3 loại điểm dừng giai điệu như sau:

5.1. Điểm Dừng Hoàn Chỉnh (perfect cadence):

Khi giai điệu ngừng nghỉ ở âm chủ, đó là dừng hoàn chỉnh. Đây là kết hoàn toàn, trọn vẹn, giống như dấu chấm ở cuối câu văn.

Vì dừng hoàn chỉnh tạo cảm giác chấm dứt trọn vẹn nên thường được tránh dùng khi câu nhạc đang còn tuôn chảy.

(Vũ Thành An: Bài Không Tên Số 8)

5.2. Điểm Dừng Không Hoàn Chỉnh (imperfect cadence):

Khi giai điệu dừng nghỉ ở âm không phải là âm chủ, cách dừng này được gọi là dừng không hoàn chỉnh, có tác dụng như điểm dừng lấy hơi, hứa hẹn còn nhiều điều tiếp theo nữa.

(Nhật Bằng: Bóng Chiều Tà)


5.3. Điểm Dừng Giữa (half cadence):

Thường được dùng trong đoạn giai điệu có 2 phần cân nhau. Câu đầu dứt ở giữa đoạn nhạc tạo cảm giác dừng treo với ngụ ý là bài nhạc chưa phải dứt hẳn. Sau đó là phần 2 được tiếp theo với dừng hoàn chỉnh. Điểm dừng giữa thường kết ở âm bậc 2, 4, 5 hoặc 7.


(Đặng Thế Phong: Đêm Thu)



6. Tuyến Giai Điệu (melody direction):

Giai điệu, dù được rất nhiều nhạc sĩ tài ba sáng tác, tuy khác nhau nhưng vẫn có vài đặc điểm giống nhau. Đặc điểm cơ bản nhất là sự cân đối giữa chuyển động lên và xuống. Vì giai điệu chỉ có thể di chuyển theo 2 chiều lên xuống này mà thôi và vì âm vực giai điệu bị giới hạn theo tầm cử của giọng hát hoặc của nhạc cụ nên trong giai điệu, luôn luôn phải có lúc quay ngược lại cho dù đường giai điệu có vươn cao hoặc tụt thấp cách mấy đi nữa.

Việc quay ngược chiều chuyển động trong giai điệu đã được nhà soạn nhạc Ý Palestrina (Giovanni Pierluigi da Palestrina, thế kỷ thứ 16) và nhiều bậc thầy âm nhạc thời Phục Hưng phát hiện ra và đi theo phương pháp này: sau một quãng nhảy cao, giai điệu sẽ chuyển hướng ngược chiều lại đi xuống theo từng bậc. Có lý do giải thích thủ pháp này: bước nhảy vọt cao gây ra căng thẳng, chuyển động từng bậc đi xuống tiếp theo đó giúp thư giãn ra.

(Trịnh Công Sơn: Chỉ Có Ta Trong Một Đời)


Tương tự như thế, sau một đoạn nhạc theo thang âm đi lên, đường giai điệu thường sẽ đi xuống.

(Cung Tiến: Hương Xưa)


7. Chuyển Cung (modulation):

Đôi khi một giai điệu, nếu được viết theo một âm giai (cung) duy nhất sẽ tạo ra hiệu quả bình lặng, nhàm chán (monotone: đều đều một giọng) và như vậy việc chuyển cung sẽ đóng góp thêm màu sắc mới. Tuy nhiên việc chuyển cung phải hợp lý theo tuyến giai điệu, theo ý nhạc và theo ý lời.

Có 2 cách chuyển cung: chuyển cung gần và chuyển cung xa.

7.1. Chuyển cung gần:

Mỗi cung trưởng hoặc thứ đều được bao quanh bằng 5 cung khác có tương quan rất gần với cung ấy: đó là cung tương ứng có cùng số dấu hóa (tăng hoặc giáng) ở khóa và 4 cung trưởng hoặc thứ có thêm hoặc bớt 1 dấu hóa ở khóa.

Thí dụ: cung C có 5 cung gần như sau:

(1) Am cung thứ tương ứng

(2) Dm cung có 1 dấu giáng

(3) Em cung có 1 dấu thăng

(4) F cung có 1 dấu giáng

(5) G cung có 1 dấu thăng

cung Em (có 1 dấu thăng ở khóa) có 5 cung gần như sau:

(1) G cung trưởng tương ứng

(2) Am cung không có dấu hóa

(3) Bm cung có 2 dấu thăng

(4) C cung không có dấu hóa

(5) D cung có 2 dấu thăng

Việc chuyển cung trong giai điệu ngắn thường là chuyển cung gần. Đối với giai điệu dài, việc chuyển cung thường mang ý nghĩa phát triển thêm ý tưởng của giai điệu (theme), do đó chuyển sang cung gần là thích hợp nhất nhưng phải được thực hiện càng tự nhiên càng tốt.

(Đan Thọ – thơ: Đinh Hùng: Chiều Tím)


(Phạm Đình Chương – thơ Đinh Hùng: Mộng Dưới Hoa)


7.2. Chuyển cung xa:

Chuyển cung xa thường được sử dụng để gây ấn tượng hoặc gây bất ngờ và ngạc nhiên cho người nghe. Có 2 cách chuyển cung xa:

(a) Chuyển dần bằng các nốt có dấu hóa đột biến báo hiệu cho việc chuyển sang cung mới.

(b) Chuyển đột ngột mà không cần phải chuẩn bị:

– khi chuyển điệu thức từ trưởng sang thứ (hoặc ngược lại) chứ không có thay đổi cung. Đây là cách chuyển cung xa thường gặp trong ca khúc. Thí dụ: chuyển từ cung C sang cung Cm.

– khi xem nốt chủ âm là nốt bậc 5 của cung sẽ chuyển tới và cung mới này phải thuộc điệu thức khác với điệu thức của cung chánh. Thí dụ: chuyển từ cung C sang cung Fm – vì C là bậc 5 trong cung Fm (vì chuyển từ cung C sang cung F là chuyển cung gần) hoặc chuyển từ cung Em sang cung A.

– khi xem nốt bậc 1, bậc 3 và bậc 5 của cung chánh là nốt bậc 3 hoặc bậc 5 của cung sẽ chuyển tới đối với trường hợp chuyển cung xa với điệu thức trưởng.

xem nốt bậc 1 của cung chánh là nốt bậc 3 của cung chuyển tới


xem nốt bậc 3 của cung chánh là nốt bậc 5 của cung chuyển tới


xem nốt bậc 5 của cung chánh là nốt bậc 3 của cung chuyển tới


Người sáng tác giai điệu có thể chuyển cung ngay khi bắt đầu giai điệu hoặc trong khi tiến hành giai điệu. Tuy nhiên, cách tốt nhất là nên chuyển cung vào đoạn giữa của giai điệu, khi mà người nghe đã có đủ thời gian để hiểu ý chính.

Số lần chuyển cung cũng nên tương thích với chủ đề giai điệu. Như vậy, đối với chủ đề đơn giản, nên hạn chế việc chuyển cung và ngược lại có thể chuyển cung nhiều lần đối với chủ đề kịch tính hoặc mê say, đắm đuối.

Hơn nữa, bản chất của việc chuyển cung cũng phải có tương quan với chủ đề của giai điệu. Chính vì vậy mà đối với chủ đề buồn, giai điệu được chuyển sang cung thứ hoặc sang cung trưởng có 1 hoặc nhiều dấu giáng ở khóa (dù là cung trưởng nhưng do có nhiều dấu giáng nên mang màu sắc buồn man mác tương tự như cung thứ).

Tuy nhiên, các qui định trong âm nhạc thường có nhiều trường hợp ngoại lệ và chỉ có tâm hồn, trái tim của người soạn nhạc mới chính là kim chỉ nam đúng đắn trong việc hình thành các giai điệu đẹp.
8. Viết Giai Điệu Ở Điệu Thức Thứ:

Điệu thức thứ có 3 loại: (1) thứ tự nhiên (natural minor), (2) thứ hòa điệu (harmonic minor) và (3) thứ giai điệu (melodic minor). Vì sự đa dạng này mà điệu thức thứ mang tính uyển chuyển, hấp dẫn và diễn đạt màu sắc hơn điệu thức trưởng. Và cũng vì đặc tính này nên đã hình thành quan niệm: giai điệu soạn ở điệu thức thứ là những giai điệu buồn. Điều này đúng vì rất nhiều giai điệu buồn được soạn ở điệu thức thứ nhưng cũng không hiếm có những ca khúc tươi vui, rộn ràng được viết ở điệu thức này.


Việc phối hợp các thể trên của điệu thức thứ trong giai điệu tùy theo cảm xúc và ý đồ của người soạn giai điệu. Điều quan trọng là đừng tự đóng khung mình cứng ngắt vào điệu thức. Sự diễn đạt tình cảm của giai điệu không nằm ở điệu thức mà phụ thuộc vào sự tiến hành của các nốt cùng tiết nhịp của giai điệu. Cũng giống như điệu thức thứ, không hiếm giai điệu lắng đọng, đượm buồn được viết ở điệu thức trưởng.

9. Cấu Trúc Bên Trong Của Đoạn Giai Điệu:

Cấu trúc bên trong của một đoạn giai điệu được hình thành bằng 4 cách khác nhau:

– bằng một đoạn khởi ý và những biến tấu của nó;

– bằng một đoạn khởi ý, những biến tấu của nó và chất liệu tự do khác;

– bằng 2 đoạn khởi ý và những biến tấu của chúng (những câu nhạc nhiều hơn 2 đoạn khởi ý hoặc 2 đoạn khởi ý cộng với chất liệu tự do rất hiếm thấy)

– bằng giai điệu tự do (không có lặp lại đoạn khởi ý)

10. Cấu Trúc Bên Ngoài Của Đoạn Giai Điệu:

Cấu trúc bên ngoài của một đoạn giai điệu là hình dáng tổng thể, độ dài và hình thức tự do hoặc cân đối của đoạn giai điệu ấy. Một đoạn giai điệu được kết trọn (kết về chủ âm) được gọi là đoạn giai điệu độc lập.

Giai điệu tự do: là giai điệu

+ không có vạch ô nhịp hoặc không có ký hiệu nhịp.

+ giai điệu với độ dài bất thường: 3, 5, 7, 9, 10 ô nhịp hoặc tương tự như thế.

Giai điệu cân đối: là giai điệu

+ có độ dài 4 hoặc 8 ô nhịp.

+ có độ dài 2 hoặc 16 ô nhịp (ít thông dụng).

Giai điệu lặp lại:

Rất nhiều bài nhạc và ca khúc thuộc dạng cân đối này: đoạn nhạc mở đầu được lặp lại ngay tức thì sau khi kết giữa hoặc kết hoàn chỉnh (kết trọn vẹn). Sự lặp lại này có thể được ký hiệu bằng ô nhịp vạch đôi với 2 dấu chấm hồi tống (dấu lặp lại), hoặc được viết lại đầy đủ lần thứ 2.

Sự lặp lại này còn có thể được biến đổi bằng cách:

+ nếu là kết giữa thì đoạn lặp lại thường kết hoàn chỉnh (kết trọn vẹn);

+ thêm các nốt hoa mỹ;

+ thay đổi chất giọng hát;

+ thay đổi cách đệm nhạc;

+ thay đổi màu sắc nhạc cụ.

11. Cấu Trúc Giai Điệu:

Giai điệu được hình thành từ việc xếp đặt các cấu trúc bên ngoài của câu nhạc theo một trật tự nào đó. Nhìn chung, cấu trúc giai điệu có thể gồm từ 1 đến 3 phần: phiên khúc (verse), điệp khúc (chorus) và phần kết (coda).

Cấu trúc trong các giai điệu thường gặp như sau:

+ chỉ một đoạn duy nhất: a – a

+ đoạn a – đoạn a’

+ đoạn a – đoạn b

+ đoạn a – đoạn a’ – đoạn b

+ đoạn a – đoạn b – đoạn a

+ đoạn a – đoạn b – đoạn b’ – đoạn a

v.v... và cấu trúc dài nhất là:

+ đoạn a – đoạn a’ – đoạn b – đoạn b’ – đoạn a – đoạn a’ – đoạn coda

Đừng tự giới hạn mình trong khuôn khổ cấu trúc nhưng một giai điệu quá dài, nếu không biết xử lý tốt, chắc chắn sẽ không còn tính thống nhất trong phong cách và sẽ trở nên luộm thuộm.

Tóm Tắt Về Cách Viết Giai Điệu

1. Cách viết giai điệu đẹp bao gồm:

– chọn đường cong giai điệu

– trạng thái động và nghỉ xen kẻ nhau

– xử lý tinh tế điểm cao trào

– sẳn sàng viết lại

– thống nhất trong phong cách

2. Âm cao nhất trong giai điệu thường chỉ xuất hiện một lần để tạo cao trào. Việc cố ý lặp lại âm cao nhất này chỉ dùng khi:

– muốn tạo hiệu quả mơ màng, thư giãn (như trong giai điệu ru hoặc trong thánh ca)

– muốn tạo cao trào mạnh mẽ (như trong những đoạn kịch tính)

3. Chọn điểm dừng. Điểm dừng giai điệu có 2 loại:

– điểm dừng không hoàn chỉnh (bất kỳ âm nào trừ âm chủ)

– điểm dừng hoàn chỉnh (âm chủ)

4. Sau một bước nhảy vọt cao hoặc sau một loạt các bước nhảy nhỏ, nên cho giai điệu chuyển động đi xuống liền bậc.

5. Khi tiến hành giai điệu theo thang âm, sau đó phải cho giai điệu chuyển hướng ngược lại, không nên tiến hành tiếp theo cùng hướng.

6. Vài lỗi thường gặp nên tránh khi viết giai điệu:

– lặp lại quá nhiều một âm

– tiến hành giai điệu theo cùng chiều với chiều tiến hành thang âm ngay trước đó

– đưa vào một yếu tố xa lạ với tính chất chung của giai điệu

– lặp lại một cách đơn tẻ một tiết nhịp ngắn, đứt đoạn

7. Tính chất của giai điệu phải phản ánh trí tưởng tượng và trình độ riêng tư của người soạn giai điệu.

  • Đắc Tâm

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét